Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) vừa tổ chức tọa đàm “Cadimi và Auramine O (Vàng O) trong canh tác sầu riêng Việt Nam - Kết quả đánh giá và giải pháp”, nhằm nhận diện nguy cơ dư lượng, xác định nguồn phát sinh và đề xuất giải pháp kiểm soát trong toàn chuỗi sản xuất, sơ chế, bảo quản sầu riêng.

Sầu riêng là cây trồng chủ lực của tỉnh Đắk Lắk, giúp nhiều hộ nông dân làm giàu từ loại cây trồng này. Ảnh: Trần Thọ
Tọa đàm là hoạt động thuộc sáng kiến “Mạng lưới đổi mới sáng tạo rau quả khu vực Tây Nguyên” do WASI và Cơ quan Khoa học Quốc gia Úc (CSIRO) phối hợp triển khai trong khuôn khổ chương trình Aus4Innovation, với sự tài trợ của Chính phủ Úc.
TS. Phan Việt Hà, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, Chủ nhiệm dự án cho biết, tại khu vực Tây Nguyên, sự phát triển nhanh của cây sầu riêng đang mở ra cơ hội nâng cao thu nhập cho người sản xuất, doanh nghiệp và địa phương. Tuy nhiên, cùng với cơ hội thị trường là những yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm và kiểm soát dư lượng, đặc biệt đối với Cadimi (Cd) và Auramine O (Vàng O).

TS. Phan Việt Hà Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) cho rằng thị trường ngày càng yêu cầu cao về kiểm soát chất lượng sầu riêng. Ảnh: WASI.
Theo TS. Phan Việt Hà, đây đang là những rào cản đáng chú ý đối với xuất khẩu sầu riêng Việt Nam, nhất là xuất sang thị trường Trung Quốc. Việc đánh giá đúng hiện trạng, xác định nguồn và cơ chế phát sinh nguy cơ là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp kiểm soát phù hợp.
Cadimi và Vàng O phát sinh nguy cơ ở những công đoạn khác nhau trong chuỗi sản xuất. Cadimi có thể bắt nguồn từ đất, nước, vật tư đầu vào và các chế phẩm sử dụng trong canh tác. Trong khi đó, Vàng O liên quan đến quá trình sơ chế, bảo quản và lưu thông sản phẩm sau thu hoạch.
TS Nguyễn Viết Trụ, đại diện nhóm thực hiện dự án tại WASI, cho biết kết quả đánh giá tại các vùng canh tác sầu riêng trọng điểm Tây Nguyên đã bước đầu nhận diện những nguồn có nguy cơ đưa Cadimi vào chuỗi sản xuất. Trong đó, phân bón khoáng, phân bón trung - vi lượng, đất trồng và các chất cải tạo đất sử dụng chưa đúng quy chuẩn là những yếu tố cần được quan tâm.
Nguy cơ Cadimi không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng kim loại nặng trong đất mà còn liên quan đến khả năng hòa tan, điều kiện đất và quá trình cây trồng hấp thu. Tại tọa đàm, một số ý kiến cho biết có những vườn trồng sầu riêng ghi nhận hàm lượng Cadimi trong đất cao nhưng mẫu quả chưa phát hiện tồn dư, cho thấy cần đánh giá thêm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu của cây.
Chuyên gia Lê Ngọc Báu khuyến cáo, việc sử dụng phân bón cần được kiểm soát chặt chẽ, nhất là phân lân nung chảy. Nếu sử dụng quá mức trong thời gian dài, nguy cơ tích lũy Cadimi trong đất có thể gia tăng.
Đại diện HTX Nông nghiệp Xanh Đạt Lý cho rằng, bên cạnh các mẫu thuốc bảo vệ thực vật đã được phân tích, cần mở rộng đánh giá đối với phân hữu cơ, phân bón lá và mẫu lá cây. Việc phòng ngừa nguy cơ ngay từ đầu vào được xem là hướng cần ưu tiên, bởi xử lý giảm dư lượng sau khi đã phát sinh có thể khó khăn và mất nhiều thời gian.

Quang cảnh buổi tọa đàm. Ảnh: WASI.
Đối với Vàng O, nguy cơ tập trung ở khâu sơ chế, bảo quản và làm đẹp vỏ quả tại một số cơ sở đóng gói. Đây là chất màu công nghiệp không được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm. Vì vậy, kiểm soát Vàng O cần tập trung vào quy trình sau thu hoạch, hoạt động vệ sinh, xử lý và bảo quản quả, không thể thay thế bằng các biện pháp quản lý đầu vào tại vườn trồng.
Ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm, dư lượng và truy xuất nguồn gốc không còn là lựa chọn mà là điều kiện để duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu. Nếu không tuân thủ, hậu quả không chỉ dừng ở một lô hàng không đạt yêu cầu mà còn làm tăng chi phí kiểm tra, lưu kho, xử lý, thu hồi và ảnh hưởng đến uy tín sầu riêng Việt Nam.
Các đại biểu tham dự tọa đàm thống nhất quan điểm cần triển khai giải pháp kiểm soát Cadimi và Vàng O theo hướng đồng bộ, có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.
Ông Nguyễn Hắc Hiển, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk đề nghị tăng cường truyền thông kết quả nghiên cứu, phối hợp với các đơn vị chuyên môn để đưa khuyến cáo đến vùng trồng. Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu trên nhiều điều kiện canh tác khác nhau, xây dựng hệ thống đánh giá chi tiết hơn phục vụ công tác quản lý và hướng dẫn nông dân.
Các đại biểu cũng đề xuất tập trung nghiên cứu Cadimi hòa tan trong đất, phối hợp với hợp tác xã xây dựng bản đồ nguy cơ dựa trên các yếu tố đất, phân bón và nguồn nước. Trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn có thể xây dựng quy trình quản lý nguy cơ phù hợp từng vùng trồng, giúp nông dân chủ động lựa chọn vật tư và biện pháp canh tác an toàn.
Về phía người sản xuất, việc sử dụng phân bón, chất cải tạo đất phải dựa trên nguồn gốc, chất lượng và hướng dẫn kỹ thuật; hạn chế sử dụng vật tư không rõ nguồn gốc, tránh lạm dụng phân bón có nguy cơ đưa kim loại nặng vào đất. Ghi chép nhật ký sản xuất, tuân thủ quy trình thực hành nông nghiệp tốt và quản lý mã số vùng trồng cần được thực hiện nghiêm túc, gắn với yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Đại diện các HTX nông nghiệp trên địa bàn phát biểu chia sẻ ý kiến tại buổi tọa đàm. Ảnh: WASI.
Đối với Vàng O, các cơ sở đóng gói cần loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng chất màu công nghiệp không được phép trong sơ chế, bảo quản sầu riêng. Thay vào đó, cần nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp bảo quản an toàn, chế phẩm sinh học và vi sinh đã được cơ quan chức năng cho phép lưu hành, bảo đảm chất lượng quả và an toàn thực phẩm.
Các đại biểu cũng kiến nghị sớm xây dựng bộ hướng dẫn kỹ thuật chuẩn (SOP) về kiểm soát Cadimi và Vàng O; nâng cao năng lực các phòng thử nghiệm tại vùng nguyên liệu để hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân kiểm nghiệm sản phẩm trước khi xuất khẩu.
Bà Jennifer Kelly, Trưởng Dự án CSIRO bày tỏ kỳ vọng tọa đàm sẽ giúp các bên hiểu rõ hơn về nguy cơ dư lượng Cadimi và Vàng O, đồng thời thu thập ý kiến khoa học để xây dựng giải pháp kiểm soát đáng tin cậy. CSIRO sẽ tiếp tục phối hợp với WASI và các đối tác Việt Nam trong chia sẻ dữ liệu, hỗ trợ kỹ thuật và thử nghiệm các giải pháp sáng tạo nhằm nâng cao sức chống chịu, phát triển bền vững ngành hàng rau quả Tây Nguyên.
Kết luận tọa đàm, TS Phan Việt Hà cho biết, WASI sẽ tiếp thu các ý kiến, hoàn thiện báo cáo và hệ thống giải pháp tổng thể, trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng chính quyền địa phương xem xét, áp dụng vào thực tiễn sản xuất.
Trần Thọ
Nguồn tin: Báo nông nghiệp và môi trường