Tin tức

Tam nông nhìn đến năm 2030
Nguồn tin: Báo Lâm Đồng
Để đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, toàn tỉnh Lâm Đồng tăng cường huy động tối đa các nguồn lực từ ngân sách nhà nước kết hợp với nguồn lực xã hội hóa; đặc biệt có những chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng, tạo sinh kế việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
Ngành Nông nghiệp Lâm Đồng ưu tiên phát triển công nghệ số canh tác trên các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao.
Theo ngành chức năng, triển khai chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân (tam nông) đến năm 2030, toàn tỉnh Lâm Đồng phấn đấu đạt tăng trưởng nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 4 – 4,5%/năm, chiếm tỷ lệ hơn 32% trong cơ cấu kinh tế. Trong đó, tăng bình quân năng suất lao động 5,5 – 6%; giá trị sản xuất đạt trên 300 triệu đồng/ha/năm.
Ở khu vực công nghiệp, dịch vụ nông thôn phấn đấu tăng trưởng bình quân trên 10%/năm. Giá trị xuất khẩu hàng năm tăng bình quân từ 10 – 12%; kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt trên 800 triệu USD, tỷ trọng giá trị xuất khẩu nông sản chế biến, chế biến sâu đạt trên 35%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 50%; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 75%. Thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,5 – 3 lần năm 2020. Giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm trên 1,5%/năm. Thu nhập bình quân đầu người vùng dân tộc thiểu số bằng ít nhất 75% bình quân toàn tỉnh; hàng năm thu hút 3 – 5% lao động vùng dân tộc thiểu số chuyển sang làm việc phi nông nghiệp.
Ngoài ra, toàn tỉnh phấn đấu 100% công trình thủy lợi trọng điểm được khởi công; cứng hóa 100% đường trục thôn, xóm và trên 90% đường trục chính nội đồng; 75% diện tích canh tác được tưới; trên 40% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch. Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên 50%, xã nông thôn mới kiểu mẫu 20 – 25% và có 4 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới nâng cao. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom, xử lý trên 80%. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định trên 55%.
Với các chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2030 nêu trên, giải pháp trọng tâm trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Lâm Đồng là cơ cấu lại cây trồng có lợi thế cạnh tranh như cây rau, hoa, cây ăn quả, cây đặc sản, cây dược liệu. Đồng thời, tập trung chuyển đổi, giảm tỷ lệ diện tích thu nhập dưới 50 triệu đồng/ha/năm còn 3%; ổn định vùng trồng lúa từ 14.000 ha đến 15.000 ha. Tiếp tục tái canh, cải tạo giống cà phê già cỗi, nhân rộng diện tích cà phê theo tiêu chuẩn bền vững, năng suất đạt 36 tạ/ha và giá trị sản xuất bình quân đạt trên 154 triệu đồng/ha; chú trọng trồng xen cây ăn quả, cây đa mục đích đạt trên 50% diện tích cà phê. Đặc biệt, cây rau, hoa mở rộng diện tích canh tác tại các huyện có điều kiện sản xuất phù hợp như: Lạc Dương, Đam Rông, Lâm Hà, Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lâm. Trong đó, tăng cường ứng dụng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn; khuyến khích chuyển đổi sang canh tác ngoài trời với các giống cây trồng mới phù hợp, đạt hệ số sử dụng đất ở mức 3,0 đến 3,5, giá trị sản xuất bình quân tăng lên 6 tỷ đồng/ha/năm. Riêng cây dâu tằm ổn định diện tích từ 13.000 ha đến 15.000 ha; cây dược liệu phát triển dưới tán rừng; hỗ trợ xây dựng và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chế biến tinh chế dược liệu…
Ngoài ra, với cây ăn quả, cây đặc sản mang tính đặc hữu của vùng như sầu riêng, bơ, chuối, chanh leo, hồng, dâu tây… tập trung phát triển trên cơ sở chuyển đổi các diện tích sản xuất kém hiệu quả, vườn tạp, mở rộng diện tích trồng xen với cây công nghiệp; hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với xây dựng, phát triển thương hiệu, quản lý, bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong nước và xuất khẩu; hỗ trợ cấp mã số vùng trồng, chỉ dẫn địa lý; hỗ trợ cấp chứng nhận chất lượng, ứng dụng công nghệ sơ chế, chế biến, bảo quản, truy xuất nguồn gốc, đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn của các thị trường xuất khẩu truyền thống và các thị trường mới…
Đáng kể đến năm 2030, toàn tỉnh có 3.000 ha canh tác thông minh và 60% đàn vật nuôi được chăn nuôi theo quy trình tự động hóa; có 50% diện tích cây ăn quả được cấp mã số vùng trồng; trên 200 cơ sở sản xuất nông sản được dán tem truy xuất nguồn gốc khi đưa ra thị trường; 100% các sản phẩm sử dụng thương hiệu “Đà Lạt – Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” được số hóa toàn bộ quá trình quản lý sản xuất và giám sát chất lượng. Ngành chức năng Lâm Đồng cho biết thêm giải pháp toàn diện ở đây là: “Đẩy nhanh ứng dụng chuyển đổi số vào nông nghiệp, nông thôn; đồng bộ trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo hướng thông minh; ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quy trình sản xuất từ khâu chăm sóc, thu hoạch, bảo quản đến khâu kinh doanh, quản lý giám sát nguồn gốc nông sản, chuỗi giá trị cung ứng sản phẩm; ưu tiên phát triển trên các nhóm cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao như rau, hoa, bò sữa…”.
Th424

Cần xây dựng hợp tác xã mạnh
Nguồn tin: báo Cần Thơ
Các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp (NN) đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả sản xuất NN tại vùng ĐBSCL. Đặc biệt, các HTX đã khẳng định vai trò không thể thiếu trong việc liên kết giữa các hộ nhỏ lẻ để hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn, đảm bảo an toàn và chất lượng, tạo thuận lợi trong kết nối với doanh nghiệp hình thành các chuỗi giá trị ngành hàng bền vững. Dù vậy, hiện việc phát triển các HTX NN vẫn còn gặp nhiều khó khăn cần được tháo gỡ kịp thời.
Sầu riêng được trồng tại HTX Vườn cây ăn trái Trường Khương A ở huyện Phong Điền, TP Cần Thơ.
Hiệu quả từ HTX NN
Với sự quan tâm khuyến khích và hỗ trợ từ ngành chức năng, thời gian qua nông dân đã tích cực liên kết, hình thành được nhiều HTX để phát triển sản xuất nông nghiệp theo quy mô hàng hóa lớn và nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm. Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), đến cuối năm 2022, toàn vùng ÐBSCL đã có 2.615 HTX NN và 20 Liên hiệp HTX NN, chiếm 13,26% tổng số HTX NN cả nước. Các HTX NN của vùng ÐBSCL tập trung nhiều ở 2 lĩnh vực là trồng trọt (lúa gạo, cây ăn trái) và nuôi trồng thủy sản (tôm, cá), chiếm khoảng 65,5% tổng số HTX nông nghiệp của vùng. Hiện cả vùng có 2.083 HTX NN hoạt động hiệu quả, chiếm 82,8% tổng số HTX NN cả vùng. Có 343 HTX NN ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, chiếm 14,1% tổng số HTX NN cả vùng. Có 1.136 HTX tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm NN cho thành viên, chiếm 46,73% HTX NN cả vùng. ÐBSCL hiện là vùng có tỷ lệ HTX NN tham gia liên kết tiêu thụ sản phẩm cho thành viên lớn nhất cả nước. Ðến nay, hình thức hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị giữa HTX với doanh nghiệp tại ÐBSCL đã trở lên khá phổ biến. Trong chuỗi liên kết với doanh nghiệp, HTX đã phát huy vai trò tổ chức kinh tế tập thể để tổ chức các hành động tập thể giữa các hộ nông dân thành viên cùng nhau áp dụng chung quy trình kỹ thuật trong sản xuất nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, đồng đều về chất lượng.
Cần quan tâm tháo gỡ khó khăn
Dù có bước phát triển đáng kể và đang có nhiều đóng góp tích cực vào phát triển NN nhưng năng lực của các HTX NN trong vùng nhìn chung còn hạn chế về vốn, tài sản, trình độ cán bộ quản lý và năng lực sản xuất kinh doanh. Quy mô hoạt động của phần lớn HTX còn nhỏ, số thành viên còn ít và chưa đa dạng được nhiều dịch vụ phục vụ xã viên. Tỷ lệ sản phẩm nông sản được tiêu thụ qua HTX còn thấp. Hiện còn nhiều HTX chưa thực hiện liên kết với các doanh nghiệp để tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Một số HTX có liên kết nhưng còn lỏng lẻo, chưa tạo thành chuỗi giá trị…
Ðể HTX NN phát huy tốt hơn nữa vai trò trong liên kết, phát triển NN, tới đây ngành chức năng cần kịp thời giúp HTX khắc phục các khó khăn và hạn chế. Ðặc biệt, hỗ trợ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và tập huấn để nâng cao năng lực trong tổ chức sản xuất, kinh doanh của HTX và mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động. Rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách và tạo thuận lợi cho HTX trong tiếp cận về tín dụng, khoa học công nghệ, sản xuất theo tiêu chuẩn… để nâng cao hiệu quả sản xuất, khả năng chế biến, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và liên kết được với các đối tác cả trong và ngoài nước. Khuyến khích doanh nghiệp liên kết với HTX…
Theo ông Trần Anh Thư, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, thời gian qua HTX NN còn hạn chế về năng lực vốn, năng lực điều hành, trang thiết bị phục vụ sản xuất, khả năng liên kết, tiếp cận thị trường và thực hiện dịch vụ phục vụ thành viên. Ðặc biệt, HTX còn gặp khó trong liên kết với doanh nghiệp, trong khi thực tế cho thấy những HTX thành công trong thời gian qua hầu như đều có sự tham gia liên kết chặt của doanh nghiệp. Tới đây, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao sự lãnh đạo của Ðảng và sự vào cuộc của các cấp chính quyền trong thúc đẩy phát triển HTX NN, An Giang chú trọng vai trò của các doanh nghiệp trong liên kết với HTX. Phát triển hệ sinh thái HTX theo chuỗi giá trị ngành hàng, lấy doanh nghiệp làm trọng tâm. Theo ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, HTX NN nào có sự tham gia liên kết của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tâm huyết, có tiềm lực và làm ăn có bài bản thì hầu như HTX đó đều hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ta chỉ chờ vào doanh nghiệp. Tới đây, bên cạnh thực hiện tốt các chính sách và nghị quyết, chương trình, đề án về phát triển HTX của Trung ương, các địa phương cần quan tâm có những chính sách đặc thù để huy động tốt các nguồn lực hỗ trợ mạnh hơn cho HTX và thu hút doanh nghiệp tham gia.
Phát biểu tại hội nghị định hướng phát triển HTX NN bền vững vùng ÐBSCL vừa diễn ra ở tỉnh Hậu Giang, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan nhấn mạnh, HTX NN mạnh yếu, bền vững hay không bền vững không chỉ giới hạn trong không gian của HTX, trong số thành viên của HTX, trong sự đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương mà còn tác động đến sự bền vững của cả không gian sản xuất NN, hình ảnh của một nền NN và thương hiệu của nông sản. Chúng ta hãy đặt định hướng phát triển bền vững trong không gian rộng lớn hơn như vậy, mới thấy cần phải hành động quyết liệt hơn, đồng bộ hơn từ trên xuống dưới và từ dưới lên, bên trong và cả bên ngoài HTX. Khi và chỉ khi có HTX bền vững, chúng ta mới vượt qua tình trạng của một nền NN với một lời nguyền manh mún, nhỏ lẻ, tự phát. Khi ấy thu nhập của người nông dân được tăng thêm nhờ dựa vào lợi thế quy mô, mua chung, bán chung, tổ chức các dịch vụ chung. Khi và chỉ khi có HTX bền vững, chúng ta mới hướng đến hình ảnh một chuỗi ngành hàng và nhờ đó tạo ra giá trị gia tăng trong từng công đoạn của chuỗi, khi ấy mới thực sự chuyển từ tư duy sản xuất NN sang tư duy kinh tế NN. HTX có bền vững mới có được mối liên kết bền chặt với doanh nghiệp trên tinh thần hài hòa lợi ích, cùng kiến tạo chiến lược dài hạn để xây dựng thương hiệu chung cho nông sản đồng bằng… Từ cách tiếp cận như vậy, các địa phương quan tâm đúng mức đến việc phát triển HTX từ trong nhận thực đến hành động của cả hệ thống chính trị. Kịp thời ban hành các nghị quyết, chương trình hành động, mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu cụ thể và thời gian cụ thể. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức của xã hội về HTX…l
Th424

Nhiều cánh đồng lúa trắng xóa do bị sâu cuốn lá
Nguồn: báo nông nghiệp
HẢI PHÒNG Tại Hải Phòng, mật độ sâu cuốn lá nhỏ vụ xuân 2023 xuất hiện cao hơn hẳn so với các năm gần đây, một số diện tích đến nay đã gây trắng lá.
Sâu cuốn lá nhỏ hoành hành tại huyện An Dương. Ảnh: Đinh Mười.
Vụ xuân 2023, các địa phương tại Hải Phòng gieo cấy hơn 26.000ha lúa. Đến nay, lúa đang ở giai đoạn đẻ nhánh rộ – cuối đẻ nhánh, một số diện tích lúa đứng cái, phân hóa đòng, bơ bản cây lúa sinh trưởng phát triển thuận lợi, khá tốt.
Tuy nhiên, vào cuối tháng 3, đầu tháng 4, một số diện tích lúa tại các địa phương này bị ảnh hưởng bởi sâu cuốn lá nhỏ lứa 1 với tổng diện tích khoảng 1.800ha. Nhiều nhất là huyện Kiến Thụy với 800ha và huyện Thủy Nguyên với 700ha, còn lại rải rác ở các xã trên địa bàn 4 huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão và An Dương.
Sâu cuốn lá nhỏ lứa 1 vũ hóa rộ chủ yếu vào tuần cuối tháng 3/2023, mật độ trưởng thành phổ biến 0,2 – 0,3 con/m2, cao 2 – 3 con/m2, cá biệt có nơi 7 – 10 con/m2.
Riêng tại Thủy Nguyên, sâu non phát triển gây hại tại một số xã như Thiên Hương, Hoa Động, Phục Lễ, Phả Lễ, Kênh Giang, Tam Hưng với mật độ sâu non rất cao, trung bình từ 100 – 150 con/m2, nơi cao 250 – 300 con/m2, cá biệt có nơi 450 con/m2 (xã Hoa Động), mật độ trứng trung bình 40 – 60 quả/m2, cao 100 quả/m2.
Người dân nhiều nơi lo lắng phun thuốc phòng trừ dù chưa được cơ quan chức năng khuyến cáo. Ảnh: Đinh Mười.
Các huyện còn lại một số nơi xuất hiện sâu non có mật độ trung bình từ 20 – 30 con/m2, nơi cao 40 – 50 con/m2như: xã An Hưng, An Hồng (huyện An Dương); xã Đại Đồng, Đại Hà, Tân Trào, Đoàn Xá (huyện Kiến Thụy); xã Chiến Thắng, Mỹ Đức, Tân Viên (huyện An Lão); xã Trấn Dương, Hòa Bình (huyện Vĩnh Bảo); xã Tiên Thắng, Toàn Thắng (huyện Tiên Lãng). Cá biệt có nơi 150 – 200 con/m2 như tại xã An Hòa huyện An Dương và xã Đại Đồng huyện Kiến Thụy.
Ghi nhận tại xã Bắc Sơn, huyện An Dương, hơn 30ha lúa Đài thơm 8 trồng theo hướng hữu cơ đang bị sâu cuốn lá gần như toàn bộ, có những nơi bị nặng lá đã trắng xóa.
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng, mật độ sâu cuốn lá nhỏ vụ xuân 2023 xuất hiện cao hơn hẳn so với các năm gần đây, một số diện tích đến nay đã gây trắng lá. Tuy nhiên, đến thời điểm này chưa ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất.
Cơ quan chức năng đã chỉ đạo phòng trừ tại các diện tích bị sâu cuốn lá nhỏ với mật độ trên 50 con/m2, lứa 1 phòng trừ từ 5 – 10 tháng 4 và đợt 2 sau nghỉ lễ 30/4 – 1/5. Riêng diện tích 31ha tại xã Bắc Sơn (huyện An Dương) nguyên nhân dẫn đến sâu bệnh hàng loạt là thời điểm phun thuốc gặp mưa.
Nhiều cánh đồng, lúa đã trắng xóa do bị sâu cuốn lá. Ảnh: Đinh Mười.
Vừa qua, người dân lo lắng ảnh hưởng đến năng suất nên đã tập trung phun thuốc phòng trừ bằng phương pháp thủ công. Tuy nhiên, cơ quan chức năng đã kịp thời khuyến cáo người dân tập trung phòng trừ sâu cuốn lá vào lứa 2 sắp tới, khi lúa làm đòng, bởi đây mới là thời điểm quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa.
Cũng theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng, ngoài sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn cũng đã xuất hiện, gây hại lá từ trung tuần tháng 3 trên các giống nhiễm (nếp các loại, TBR225, J02, Đài Thơm 8…) với tổng diện tích khoảng 200ha.
Đáng lưu ý, bệnh gây hại nặng trên giống nếp, tỷ lệ bệnh phổ biến 5 – 10%, nơi cao 20% số lá, cá biệt xuất hiện ổ bệnh gây lụi thành chòm nhỏ như tại các xã Tam Đa, Hòa Bình, Nhân Hòa, Trấn Dương, Vinh Quang… (huyện Vĩnh Bảo); xã Đại Thắng, Tự Cường (huyện Tiên Lãng); xã Ngũ Phúc, Thanh Sơn, Tân Trào (huyện Kiến Thụy); xã Chiến Thắng, Tân Viên, Quốc Tuấn, Mỹ Đức (huyện An Lão); xã An Hồng, An Hưng, Quốc Tuấn (huyện An Dương).
Th419

Cơn sốt chanh leo ở Tây Nguyên: Giống giả tràn lan, nông dân khốn đốn
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
Chanh leo nhập từ Đài Loan, chanh leo chính hãng, những lời rao bán khắp mạng xã hội đẩy nhiều nông dân vào cảnh điêu đứng vì giống giả, cây chưa kịp lớn đã chết.
Khốn đốn vì mua giống trên mạng xã hội
“Hôm đầu vài cây giống chết, hôm sau thêm chục cây, ngày sau nữa thì hàng loạt cây héo rũ. Em không tin nổi vào mắt mình nữa”, Kpă Y Yô nói.
Nam thanh niên người Ê Đê kể rằng cách đó 1 tuần, anh mua giống chanh dây (chanh leo) từ một phụ nữ trên mạng xã hội với lời quảng cáo: Chanh dây chính hiệu Đài Nông 1, giá 2,6 triệu đồng/thùng/102 cây.
Khi thấy hiện tượng cây giống chết nhiều, Y Yô gọi điện cho người phụ nữ bán hàng tên Nguyen Huong, song không ai nghe máy.
Anh Kpă Y Yô bên cạnh nhiều gốc chanh leo kém chất lượng, vừa trồng vài hôm đã thối rễ. Ảnh: Văn Việt.
Y Yô không phải là trường hợp duy nhất nhận “trái đắng” trong cơn sốt chanh dây đang bùng lên ở nhiều nơi tại Tây Nguyên. Dọc từ Gia Lai đến Đắk Lắk, câu chuyện mua phải giống giả, giống kém chất lượng khiến vườn chanh dây thất thu hoặc chết hàng loạt không phải hiếm.
Trở về nhà khi hoàng hôn buông xuống, nam thanh niên sinh năm 1996 ngồi ủ rũ một góc, trả lời nhát gừng khi người nhà hỏi thăm.
17h ở xã Dliê Yang, huyện Ea H’leo (Đắk Lắk) trời khá tối. Nhà Y Yô không bật điện, vì tiết kiệm. Vợ Y Yô bế con đi ngang, nói: “Mai phải đóng tiền học cho đứa lớn và đứa bé nhé”. Y Yô im lặng, người cha của anh thì thở dài, em trai Y Yô nhìn ra cửa, ánh mắt bất định.
Tiền mua giống chanh dây là của hai anh em góp vào, em trai cũng có 2 đứa con nhỏ. Học phí sẽ đến cùng một lúc. Vốn liếng đã dồn hết vào giống, máy bơm, phân bón. Chừng 7ha cà phê của cả nhà chung sức làm thì chưa tới lúc thu hoạch. Ba người đàn ông ngồi im lặng, mặc bóng tối dần bao phủ căn phòng khách chật hẹp.
Muốn bắt đền người bán cũng không được, vì cuộc mua bán không hề có hóa đơn. Y Yô thấy hàng xóm khá lên vì chanh dây, nên anh cũng muốn làm theo. “Giá chanh dây hiện giờ là 12.000đ đến 17.000đ/kg quả tươi. Mà chỉ cần bán với giá 10.000đ/kg thì cũng đã có lãi rồi. Chưa kể tầm 4 tháng lại cho thu hoạch một lần”, đó là lời hàng xóm nói với Y Yô.
Giá một thùng chanh dây giống Đài Nông 1, 100 cây, chừng 2,8 triệu đồng đến 3,2 triệu đồng, tùy đại lý. Chỉ vì tiết kiệm 200 nghìn đồng, và cả tin, Y Yô ít nhất khiến 4 đứa trẻ rơi vào cảnh thiếu học phí.
Giống chanh dây chưa về, nhiều nông dân đã đợi sẵn, tranh mua. Ảnh: VV.
Cách nhà Y Yô khoảng 50km, chị Nguyễn Thị Th. (nhân vật yêu cầu không nêu tên) còn lâm vào cảnh đáng buồn hơn. Tin vào các quảng cáo trên mạng xã hội, chủ yếu trên facebook, tiktok, chị Th. mua 6 thùng giống chanh dây Tai Shiang được quảng cáo là xuất xứ từ Đài Loan. Với giá 3 triệu đồng/thùng, chị Th. mong đổi vận, song toàn bộ 600 cây giống lăn ra chết sạch, cùng với đó là 18 triệu đồng tiền giống coi như mất trắng, bởi không có hóa đơn chứng từ.
Chị Th. khóc sưng mắt khi kể chuyện. Chồng chị đã bỏ lên rẫy cả tuần nay, với hi vọng vớt vát vào chút ít cây cà phê còn lại.
Bạc đầu vì giống chanh dây kém chất lượng
Nông dân khổ, các đại lý bán giống chanh dây làm ăn chân chính cũng bạc đầu vì câu chuyện cây giống.
Chủ đại lý N.C., ở Ea H’leo, đơn vị có đăng ký kinh doanh cây giống chanh dây than thở: “Mấy năm nay chanh dây được mùa, được giá nên bà con mua rất đông. Không có nguồn cung đủ cũng bị một số người chửi mắng tận nhà, hoặc nhắn tin, gọi điện gây sức ép”.
Đại lý N.C. cho biết thời gian qua, nhiều nông dân phản ánh việc trên mạng xã hội Facebook và Zalo có một người tên L., thường xuyên chào bán giống chanh dây phổ biến như Đài Nông 1, hoặc giống Tai Shiang, Tai One “nhập khẩu từ Đài Loan”.
Không ít nông dân nghĩ rằng nhà N.C. cố ý găm hàng, tăng giá, nên có thời điểm, hàng chục người kéo đến chặn cửa. Họ hi vọng sẽ đón đầu các lô giống khi xe chở hàng tới đại lý. “Ai cũng bảo bên L. có, mà sao bên tôi không có, hay là cố ý để ép giá. Họ chửi mắng ghê lắm, bạc cả đầu, mất ngủ triền miên mà không biết làm sao”.
Nếu N.C. bán các loại giống chanh dây được cấp phép, có hồ sơ truy xuất với giá từ 3 triệu đến 3,2 triệu đồng/thùng thì người bí ẩn tên L. trên mạng xã hội luôn rao bán giống chanh dây có giá thấp hơn 200 nghìn đồng/thùng tùy loại.
Ông chủ N.C. nói gia đình ông cũng trồng chanh dây, đại lý kiêm luôn cả thu mua quả tươi rồi bán lại cho các nhà máy chế biến ở Đắk Lắk và Gia Lai.
“Nói thẳng là cứ bảo giống nhập từ Đài Loan, chứ làm gì có Đài Loan nào, “nhập” từ Gia Lai qua đây đó. Làm ăn không có tâm”, ông chủ N.C. tiết lộ.
Theo ông chủ N.C., tiền mua giống, tiền vận chuyển, nếu thật sự từ Đài Loan về, thì không thể dưới 2,9 triệu đồng/thùng. “Tôi nói luôn là mấy chỗ quảng cáo giống Đài Loan trên mạng xã hội đều là bịp đó, làm ăn không có tâm. Cứ cho là vận chuyển bằng máy bay đi, thùng giống rớt xuống sân bay Tân Sơn Nhất đã phải 3 triệu đồng. Còn vận chuyển lên đây nữa, bán với giá 2,8 triệu đồng thì ai tin nổi”.
Giai đoạn trước khi có dịch bệnh Covid-19, cây giống chanh dây nhập khẩu từ Đài Loan về đến sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 1,1 USD, nhà nhập khẩu tính tổng chi phí bán hàng, lợi nhuận thì giá tới tay đại lý thấp nhất cũng đã 2,9 triệu đồng/thùng. Đại lý bán cho người dân khoảng 3,5 triệu đồng/thùng.
Lý giải thêm về việc “chanh Đài Loan nhập từ Gia Lai”, ông chủ N.C. nói vẫn có nông hộ “gặp hên” được lô giống tốt, được mùa được giá. Song đa phần nông hộ khi mua giống trôi nổi trên mạng xã hội, sẽ lâm vào cảnh cây giống chết, hoặc sống được thì năng suất không cao. Hoặc có nông hộ trồng chanh dây, chỉ được vụ đầu, vụ sau cây cho sản lượng cực thấp.
Bên trong cơ sở sản xuất giống chanh dây của Nafoods Group. Ảnh: Văn Việt.
“Trồng chanh dây không dễ, trời nắng nóng là phải “quay béc” (dùng giàn phun tưới trên cao để hạ nhiệt). Nếu không làm thế thì giống nào cũng chết, hoặc năng suất thấp, hoặc rất khó đậu hoa, rụng hoa, rụng trái non hoặc trái nhăn nheo, năng suất thấp, bán không được giá”, ông chủ N.C. chia sẻ.
Phân tích về thị trường, ông chủ N.C. cho biết ở Ea H’leo, giá thu mua quả chanh dây hiện tại thấp nhất là 16.000đ/kg. Với mức giá này, và việc một năm cho thu hoạch từ 3 – 4 lứa, chanh dây đang mang lại thu nhập cho nông dân cao hơn so với cà phê, tiêu.
“Vài năm qua, giá chanh dây tăng đều. Tôi nghĩ dần dần nó còn cạnh tranh với sầu riêng. Phải chịu chăm mới được, và quan trọng là mua giống phải có hóa đơn chứng từ. Mua bán mà cứ nói chơi chơi rồi đến lúc có vấn đề biết kêu ai”.
Nafoods Group hỗ trợ hộ dân bị thiệt hại
Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Gia Lai cho biết, từ giống gốc là giống chanh leo Đài Nông 1 có xuất xứ từ Đài Loan, sau này, một số doanh nghiệp lớn đã ghép và tạo ra các loại giống mới, được cấp chứng nhận là giống đầu dòng, đảm bảo chất lượng khi đưa ra thị trường.
Nhận thấy tiềm năng kinh tế từ cây chanh leo, Công ty Cổ phần Nafoods Group là doanh nghiệp đi đầu tại Việt Nam hợp tác, nhận chuyển giao công nghệ sản xuất từ giáo sư Lin Yin Ta để sản xuất giống chanh leo Đài Nông 1 ngay trên lãnh thổ Việt Nam, địa điểm tại Viện Nghiên cứu Sản xuất cây trồng công nghệ cao Nafoods.
Song song với việc tiếp nhận tiến bộ khoa học, Nafoods Group cũng là doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam hoàn chỉnh các hồ sơ pháp lý liên quan đến sản xuất và lưu hành giống chanh leo Đài Nông 1. Cụ thể: Sở NN-PTNT Nghệ An cấp “Quyết định công nhận cây đầu dòng chanh leo ” ngày 28/12/2018; cấp “Quyết định chứng nhận vườn cây đầu dòng chanh leo” ngày 07/10/2020.
Sau khi nắm được thông tin trường hợp gia đình anh Kpă Y Yô và chị Nguyễn Thị Th. bị thiệt hại do mua phải giống chanh leo không rõ nguồn gốc xuất xứ, Công ty Cổ phần Nafoods Group đã tặng anh Kpă Y Yô một thùng giống chanh dây trị giá hơn 3 triệu đồng. Đối với trường hợp chị Nguyễn Thị Th., Công ty cũng đã liên hệ để hỗ trợ.
Đại diện của Nafoods Group cũng cho biết, thực tế nhiều đại lý cấp 1 làm việc với đại lý cấp 2 không có hợp đồng, chủ yếu qua “nói chuyện” nên khi phát sinh nhu cầu về cây giống, dễ dẫn đến mâu thuẫn, tranh cãi về sản lượng, giá cả. Đại lý cấp 2 kêu đại lý cấp 1 không được, thường sẽ kêu lên Công ty. Tuy nhiên, Công ty không thể can thiệp vào việc này bởi đại lý cấp 1 muốn bán cho ai, bán với giá bao nhiêu là quyền của đại lý cấp 1, Công ty không thể chỉ định.
Tình trạng này cũng lý giải một phần cho việc nhiều nơi ở Tây Nguyên đang “cháy” giống chanh leo từ các nhà cung cấp được cấp phép, có xưởng sản xuất và cây đầu dòng đạt chuẩn của Bộ NN-PTNT.
Th419

Đào vào mùa thu hoạch, bà con vùng cao kiếm bộn tiền
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
LÀO CAI Vụ thu hoạch năm nay, đào ở Bắc Hà (Lào Cai) sai quả, giá bán khá cao, khách mua nhiều vào các ngày cuối tuần đông khách du lịch.
Quả đào Pháp được bán tại chợ huyện Bắc Hà khoảng 1 tuần nay. Ảnh: Xuân Cường.
Khoảng 1 tuần nay, bà con vùng cao huyện Bắc Hà (Lào Cai) đã bước vào vụ thu hoạch đào năm 2023. Vụ đào năm nay, nhờ thời tiết thuận lợi nên đào Bắc Hà đậu quả sai, việc tiêu thụ cũng thuận lợi, nhất là dịp cuối tuần, chợ phiên chủ nhật có nhiều khách du lịch. Hiện giá quả đào đầu vụ khá cao, cho bà con thu nhập ổn định so với vụ trước.
Những ngày này, khu vực trung tâm huyện Bắc Hà và các xã Tả Chải, Na Hối, Bản Phố…, cây đào Pháp đã bắt đầu chín rộ, bà con đang tập trung thu hoạch quả đem ra chợ bán. Chị Thèn Thị Thủy ở thôn Na Hối Nùng (xã Na Hối) cho biết nhà trồng hơn 60 cây đào hơn 10 năm tuổi. Cây đào có năm được mùa ra quả, năm lại mất mùa. Năm nay, nhờ thời tiết thuận lợi nên đào được mùa, lại có khách du lịch lên Bắc Hà khá đông vào các ngày cuối tuần mua quả đào làm quà nên việc tiêu thụ thuận lợi, giá cao và ổn định hơn so với vụ trước.
Đào Bắc Hà là giống đào lai tạo với giống đào Pháp, gồm 2 loại đào lông và đào nhẵn đều được du khách, thị trường ưa chuộng. Ảnh: Xuân Cường.
“Nhà tôi đã có quả đào bán được một tuần nay, bán chạy nhất là vào ngày chủ nhật cho khách du lịch. Ngày thường gia đình hái bán được 40 – 50kg, riêng ngày chủ nhật có khách du lịch bán được 1 – 2 tạ, có thêm thu nhập đáng kể…”, chị Thủy phấn khởi.
Chị Cù Thị Đào, tiểu thương bán hoa quả ở trung tâm huyện Bắc Hà cho biết, năm nay cơ bản đào được mùa, song một số hộ do những năm trước cây đào ra quả năm được, năm mất mùa do thiên tai nên bà con không đầu tư chăm sóc, vì vậy nhiều quả nhỏ. Năm nay giá đào vẫn khá cao và ổn định so với vụ trước, ngày thường bán túc tắc, bán chạy nhất vào cuối tuần khi có nhiều khách du lịch. Giá đào vẫn dao động từ 10 – 60 ngàn đồng/kg gồm 3 loại: Loại xô thường và đẹp từ 10 – 20 ngàn đồng/kg, loại chọn đều và đẹp từ 25 – 35 ngàn đồng/kg, đào ngố từ 40 – 60 ngàn đồng/kg.
Toàn huyện Bắc Hà hiện có khoảng gần 100ha cây đào Pháp giống DT2 và Micret tập trung ở các xã Tả Chải, Na Hối, Bản Phố và thị trấn Bắc Hà… Đa số các hộ trồng xen cây đào với mận, lê, số lượng từ 30 – 50 cây/vườn. Mấy năm gần đây, những loại cây ăn quả ôn đới này đã mang lại nguồn lợi kép cho nông dân, vừa có nguồn thu từ thu hái quả, vừa thu hút khách du lịch tới thăm quan, trải nghiệm…
Năm nay đào rất được mùa, các vườn đào cũng là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch. Ảnh: Xuân Cường.
Chị Lê Hải Yến, khách du lịch đến từ Hà Nội cho biết: “Vào dịp nghỉ cuối tuần, biết thông tin Bắc Hà đang vào mùa đào chín nên mình và các bạn lên đây tham quan, ngắm cảnh, đến các vườn đào chụp ảnh và thưởng thức những quả đào chín, sáng chủ nhật đi chợ mua nông sản, quả đào về làm quà. Quả đào Bắc Hà ăn rất ngon, giòn, thơm, có vị chua ngọt, mẫu mã đẹp”.
Vụ thu hoạch quả đào Pháp trên địa bàn huyện Bắc Hà bắt đầu từ đầu tháng 4 dương lịch, dự kiến kết thúc vào cuối tháng 4. Ngay sau khi đào chuẩn bị hết vụ, cũng là lúc những trái mận trên cây tại những vườn đồi bắt đầu chín đỏ trên cao nguyên Bắc Hà.
Mận tam hoa chín rải vụ, mận chín sớm đúng dịp kỳ nghỉ lễ 30/4 – 1/5, hứa hẹn là điểm đến hấp dẫn để trải nghiệm miệt vườn, Những vườn đồi trên cao nguyên Bắc Hà mùa đào, mận chín hứa hẹn sức tiêu thụ cao, đem lại nguồn thu đáng kể, góp phần cải thiện đời sống cho bà con đồng bào thiểu số ở địa phương.
Th419

Dừa xiêm, xoài cát làm giàu cho người dân xứ cát
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
BÌNH ĐỊNH Từ một vùng đất cát bạc màu, hiệu quả thấp, cây dừa xiêm và xoài cát đang dần phủ xanh đất Phù Cát (Bình Định), làm giàu cho nông dân.
Dừa xiêm ngọt lịm trên xứ cát
Huyện Phù Cát, địa phương được mệnh danh là “xứ cát” của tỉnh Bình Định trước đây chẳng có tên tuổi gì trên bản đồ cây ăn quả của đất võ. Vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ 20, cây ăn quả trên đất Phù Cát có chăng cũng chỉ là những cây điều và dừa ta chẳng cho hiệu quả gì. Từ khi hệ thống kênh tưới của đập dâng Văn Phong đưa nước về xứ cát, nông dân ở đây đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng để khai thác tiềm năng của đất. Những diện tích điều và dừa ta già cỗi được thay thế bằng dừa xiêm và xoài cát.
Theo Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, toàn huyện này hiện có khoảng 1.188ha dừa xiêm, tập trung ở các xã Cát Hiệp, Cát Trinh, Cát Lâm, Cát Sơn, Cát Hanh, Cát Tân và Cát Khánh. Sở dĩ nông dân Phù Cát chọn cây dừa xiêm để gửi gắm niềm tin là vì loại cây này dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, không kén đất, cả những vùng đất cát ven biển cây dừa xiêm vẫn “đẻ ra tiền”.
Ở Phù Cát, hầu như nhà nào cũng trồng dừa xiêm, nhà ít vài chục cây, nhiều đến vài trăm cây. Thực tế cho thấy, dừa xiêm là loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với tiềm lực kinh tế của nhiều hộ nông dân. Dừa xiêm trên đất cát cho nước có độ ngọt cao, thơm, được nhiều thị trường ưa chuộng.
Hiện huyện Phù Cát hiện có khoảng 1.188ha dừa xiêm. Ảnh: Vũ Đình Thung.
Mỗi ha có thể trồng 300 cây dừa xiêm, 4 năm sau khi trồng cây dừa xiêm sẽ cho quả. Dừa xiêm 5 – 6 năm tuổi mỗi năm cho khoảng 100 – 120 quả/cây. Dừa xiêm ở Phù Cát luôn có giá ổn định, vào mùa nắng nhu cầu giải khát tăng cao thì dừa xiêm đứng giá 10.000 – 12.000đ/quả, mùa mưa giá dẫu có hạ nhưng vẫn đứng mức 7.000đ/quả.
Riêng dịp Tết Nguyên đán, dừa xiêm được bán theo buồng để chưng bàn thờ tổ tiên thì giá còn cao hơn. Theo tính toán của nông dân Phù Cát, mỗi cây dừa xiêm cho lãi khoảng 1 triệu đồng/năm. Một số người am hiểu kỹ thuật, thu dừa khô làm giống còn có thu nhập cao hơn, bởi dừa giống có giá đến 60.000 đồng/quả.
“Để lấy ngắn nuôi dài, mấy năm đầu dừa chưa khép tán, chưa cho quả thì mình trồng xen đậu phộng (lạc), mì, rau màu dưới tán dừa để có thu nhập. Phân bón cho đậu phộng, mì và rau màu cây dừa cũng được ăn theo nên phát triển rất tốt. Khi dừa được 4 năm tuổi, bắt đầu cho thu hoạch là chủ nhà vườn bắt đầu rủng rỉnh tiền. Trồng dừa cũng không lo đầu ra, thương lái đến tận vườn mua gom”, nông dân Nguyễn Văn Yên, chủ vườn dừa ở thôn Phú Kim, xã Cát Trinh (huyện Phù Cát) chia sẻ.
Khi dừa xiêm chưa cho quả, nông dân có thể trồng đậu phộng dưới tán dừa để “lấy ngắn nuôi dài”. Ảnh: Vũ Đình Thung.
Cây dừa xiêm trồng trên đất cát ven biển còn cho hiệu quả bất ngờ hơn. Theo kinh nghiệm của nông dân Nguyễn Công Tại ở thôn An Quang Tây (xã Cát Khánh), cây dừa xiêm trồng trên đất cát ven biển chỉ khó trong giai đoạn đầu, khi cây đã bắt rễ thì cũng phát triển như trồng trên những chân đất khác.
Đặc biệt, dừa xiêm trồng trên đất cát ven biển quả cho nước có vị ngọt đậm, rất đặc trưng. “Tôi trồng 100 cây dừa xiêm từ năm 2012 – 2013, đến năm 2017 thì có thu hoạch, ngay lứa đầu bình quân mỗi cây đã được khoảng 100 quả. Mỗi năm 100 cây dừa xiêm cho gia đình tôi thu nhập hơn 100 triệu đồng”, ông Tại chia sẻ.
Theo ông Lương Văn Khoa, Phó trưởng Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, dừa xiêm là loại cây trồng không đòi hỏi nhiều về kỹ thuật chăm sóc lại rộng đầu ra, giá cả ổn định nên mang lại nguồn thu nhập cao cho nông dân. Do đó, chỉ trong thời gian ngắn, diện tích dừa xiêm trên địa bàn huyện đã tăng đến gần 1.200ha.
Chuẩn hóa những cây ăn quả chủ lực
Sau dừa xiêm, xoài cát cũng là cây ăn quả chủ lực của huyện Phù Cát, hiện diện tích xoài cát trên địa bàn huyện này đã có được 208ha, tập trung chủ yếu ở xã Cát Hanh.
Theo ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch UBND xã Cát Hanh cho biết, xã đang có diện tích trồng xoài tập trung đến hơn 100ha, trong đó hầu hết đã cho kinh doanh. Địa phương phát triển cây xoài cát đầu tiên ở xã Cát Hanh là thôn Tân Hóa Nam.
“Cây xoài cát Hòa Lộc mang về từ miền Nam về rất phù hợp với đất cát nên mang lại hiệu quả kinh tế cao, bà con thấy vậy phá hết những diện tích trồng dừa ta trước đây cho hiệu quả kém để mở rộng diện tích trồng xoài. Cây xoài nhanh chóng phủ kín những diện tích đất vườn trên địa bàn toàn xã, hiện nay đã có trên 100ha”, ông Thanh cho hay.
Ông Nguyễn Ngọc (sinh năm 1955) đang sở hữu 800 gốc xoài cát trồng trên diện tích 4ha ở thôn Tân Hóa Nam, trong đó có hơn 300 gốc đã được được 21 năm tuổi và gần 500 gốc được 13 năm tuổi. Với 800 gốc xoài cát cao niên, mỗi năm ước tính ông Ngọc thu hoạch trên 40 tấn quả. Năm được giá, xoài loại 1 được thương lái đến tận vườn mua với giá 22.000đ/kg, xoài loại 2 mua 12.000đ/kg, bình quân giá xoài khoảng 15.000đ/kg.
Với hơn 40 tấn xoài, mỗi năm ông Ngọc ước tính có thu nhập khoảng 600 triệu đồng. Trừ các loại chi phí từ thuê công tỉa cành, phân bón, thuốc BVTV mất khoảng 100 triệu đồng thì ông còn lãi ròng được 500 triệu đồng.
Ở huyện Phù Cát (Bình Định) hiện có 208 ha xoài cát, tập trung chủ yếu ở xã Cát Hanh. Ảnh: Vũ Đình Thung.
Theo ông Nguyễn Văn Lê, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, địa phương này xác định 2 loại cây ăn quả chủ lực là dừa xiêm và xoài cát để đầu tư phát triển theo hướng hàng hóa. Do vậy, những năm qua, ngành nông nghiệp Phù Cát phối hợp với các địa phương đã rà soát diện tích sản xuất của 2 cây trồng này, lập quy hoạch và định hướng người dân đầu tư thâm canh, phát triển đồng bộ theo quy trình canh tác để đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng.
Năm 2021, UBND tỉnh Bình Định đã cho phép huyện Phù Cát sử dụng địa danh “Phù Cát – Bình Định” đăng ký nhãn hiệu “xoài cát Phù Cát”. Đến nay, có khoảng 40ha xoài tập trung của Phù Cát đã được cấp chứng nhận VietGAP.
Giai đoạn 2023 – 2025, huyện Phù Cát đăng ký sản xuất thêm 110ha xoài hợp chuẩn VietGAP tập trung ở các xã Cát Hanh, Cát Hiệp và Cát Lâm, riêng trong năm 2023 sẽ trồng 60ha, đồng thời đề xuất hướng dẫn cấp mã số vùng trồng cho 25ha.
Cũng giai đoạn này, Phù Cát sẽ trồng thêm khoảng 100ha dừa xiêm, riêng trong năm 2023 tăng 50ha và 2 năm 2024 – 2025 tăng thêm 50ha. Toàn bộ diện tích dừa xiêm trồng mới này sẽ được điều chỉnh sản xuất theo một quy trình để triển khai đồng bộ.
Năm thời tiết thuận lợi, năng suất xoài cát khoảng 10 tấn/ha. Ảnh: Vũ Đình Thung.
Cũng theo ông Lê, huyện Phù Cát đã xây dựng mô hình khuyến nông thâm canh dừa xiêm thời kỳ cho quả theo hướng hữu cơ với quy mô diện tích 1,2ha ở xã Cát Hiệp; chuyển giao kỹ thuật cho các hộ dân có nhu cầu để nhân rộng.
Khi đã chuẩn hóa quy trình và chất lượng sản phẩm, Phù Cát sẽ tiếp tục hỗ trợ để xây dựng và đăng ký sản phẩm OCOP, đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm xoài, dừa xiêm của địa phương. Đẩy mạnh quảng bá nông sản chủ lực qua các kênh tiêu thụ, kết nối với Sở Công thương Bình Định để mở rộng thị trường.
“Trong vụ đông xuân 2022 – 2023, huyện Phù Cát đã tổ chức tập huấn về kỹ thuật canh tác và chuyển đổi cây trồng, đặc biệt là diện tích trồng cây ăn quả kết hợp cấp mã số vùng trồng”, ông Nguyễn Văn Lê, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát cho hay.
“Trong năm 2023, Chi cục Trồng trọt và BVTV Bình Định sẽ hướng dẫn canh tác và chứng nhận VietGAP cho 110ha cây ăn quả, trong đó có 50ha bưởi ở huyện Hoài Ân và 60ha xoài ở huyện Phù Cát; chứng nhận hữu cơ cho 100ha dừa xiêm, trong đó huyện Hoài Ân 50ha và huyện Phù Cát 50ha.
Toàn bộ diện tích được chuẩn hóa này được cấp mã số vùng trồng, thực hiện truy xuất nguồn gốc và đề nghị công nhận sản phẩm OCOP”, ông Lê Hoài Lam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Bình Định chia sẻ.
Vũ Đình Thung
Th417

Người nông dân trồng rừng nuôi cây
Nguồn tin: Báo Lâm Đồng
Thay vì tận dụng hết diện tích để trồng cây cà phê, sầu riêng cũng như các loại cây khác, nhiều nông hộ Lâm Đồng đã kết hợp hài hòa vườn – rừng, tạo môi trường sinh thái bền vững. Có một nông hộ đang thực hiện theo hướng canh tác bền vững này, vừa tạo nguồn thu nhập, vừa đảm bảo không gian sống cho cây cỏ và tự nhiên.
Ông Hồ Văn Hùng trong vườn trồng xen
Ông Hồ Văn Hùng là một nông dân nổi tiếng tại Thôn 6, xã Tân Châu, huyện Di Linh. Nổi tiếng vì ông Hùng có diện tích đất cà phê xen sầu riêng, cây ăn trái rộng tới 13 ha. Và ông cũng là người trồng, duy trì diện tích rừng 4 ha, với những gốc thông đã bằng một vòng ôm. Khu vườn của ông Hùng là một điển hình của canh tác vườn – rừng, tạo một khung cảnh nông nghiệp đẹp và thân thiện với tự nhiên. Đặc biệt, ông rất chú trọng tới việc tiết kiệm nước, đảm bảo sử dụng lượng nước một cách hiệu quả trong mùa khô cao nguyên.
Ông Hồ Văn Hùng cũng như nhiều cư dân Tân Châu vốn gắn bó với cây cà phê từ nhiều năm nay. Đất Tân Châu khá dốc, mảnh vườn ở Thôn 6 của ông Hùng cũng tương tự, là cả quả đồi lớn, đường đi dốc thoải. Từ 2 – 3 năm trở lại đây, thay vì trồng thuần sầu riêng, ông Hùng đã cải tạo vườn, trồng xen một số loại cây ăn trái. Ông đã trồng 1.700 cây sầu riêng, gần 500 cây bơ và mít xen giữa những luống cà phê. Sầu riêng, bơ, mít có cây đã cho trái bói, có cây mang lại cho ông nhiều hi vọng vào tương lai, đặc biệt là cây sầu riêng.
Đất Thôn 6 dốc thoải, là thổ nhưỡng rất thích hợp với cây sầu riêng. Tuy nhiên, lại nảy sinh một vấn đề lớn là làm thế nào cung cấp đủ nước cho loài cây khó tính này. Ông Hùng cho biết, sầu riêng là cây cần nước nhưng không được úng ngập. Vì vậy, vào mùa khô, sầu riêng tuổi kiến thiết cần tưới 3 lần/tuần, mỗi lần từ 70 – 80 lít nước/gốc sầu riêng. Trước chỉ trồng cà phê, trong cả mùa khô nông dân chỉ cần kéo nước tưới 2 – 3 lần, nay trồng sầu riêng, vài ngày đã phải tưới nước. Vì vậy, ông Hùng đã lắp đặt hệ thống tưới tự động toàn vườn.
Tận dụng địa hình đồi, ông đào hồ trên đỉnh, lắp đặt hệ thống nước tự chảy xuống từng khu. Chỉ cần mở máy, nước sẽ tự động chảy xuống tưới cây, vừa đỡ mất công, vừa đỡ tốn nước. Với cà phê, ông còn áp dụng tưới béc phun thấp. Còn với cây sầu riêng, do nhu cầu đặc biệt, ông áp dụng tưới ngầm. Đường ống được vòng tròn theo thân cây, trùng với tán lá do các kỹ sư nông nghiệp hướng dẫn, tán sầu riêng vươn tới đâu, rễ ăn theo tới đó nên ông tưới ngầm phủ rộng theo tán lá. Phân bón, thuốc dưỡng các loại được pha trực tiếp trong bồn, theo ống chảy xuống tưới tận gốc, không lãng phí ra môi trường. Ông Hùng chia sẻ: “Bà con thường áp dụng tưới phun mưa, lượng nước lãng phí khá lớn vì tưới thường xuyên. Gia đình tôi áp dụng tưới ngầm, nước chảy từ từ vào từng gốc nên hiệu quả cao hơn, tiết kiệm cả phân, nước”. Nhờ hệ thống tưới tự động, công việc chăm sóc vườn của ông Hồ Văn Hùng vừa nhàn, vừa đảm bảo hiệu quả, giảm chi phí phân, thuốc.
Ngoài hệ thống tưới tự động, ông Hồ Văn Hùng còn rất tự hào về diện tích rừng của ông. Từ năm 2004, khi vườn cà phê đang sum suê, ông Hùng đã nảy ra ý định trồng rừng. Vậy là ông mua hàng ngàn cây ngo (thông) về trồng trên diện tích 4 ha, kéo dọc đất vườn, ngăn vườn cà phê với thung lũng phía dưới. Sau gần 20 năm, những cây ngo đã cao lớn, có cây đạt một vòng tay ôm, tạo thành một quần thể sinh thái rừng trồng. Ông Hùng chia sẻ: “Nhiều hộ tiếc đất canh tác, trồng hết cà phê nhưng theo tôi, trồng rừng ngo vừa chắn gió, vừa chống sạt lở đất rất hiệu quả, giúp cây trồng sống khỏe, năng suất cao. Thêm nữa là có rừng, có cây, nhiều chim chóc, cheo, sóc về làm tổ, rất đẹp và thấy có sức sống”. Ông Hùng cũng cho biết, trước đây, khi ông kí hợp đồng cung cấp hạt cho thương hiệu cà phê ACOM, vườn của gia đình ông luôn được đánh giá là mô hình vườn – rừng bền vững.
Ông Nguyễn Tiến Cát, cán bộ Trung tâm Nông nghiệp huyện Di Linh nhận xét, ông Hồ Văn Hùng là một nông dân rất tiến bộ, sẵn sàng đầu tư, áp dụng các kỹ thuật canh tác mới. Trung tâm nông nghiệp đã hỗ trợ gia đình ông Hùng 1 mô hình tưới tiết kiệm trên cây sầu riêng và nhận thấy hiệu quả, ông Hùng đã chủ động mở rộng mô hình, áp dụng tưới tiết kiệm cho vườn. Ông Hồ Văn Hùng là nông dân sẵn sàng cải tạo các biện pháp canh tác để đảm bảo vườn – rừng phát triển bền vững, hợp với tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái.
Th417
Sản xuất tôm – lúa, mô hình bền vững ở ĐBSCL
Nguồn tin: Báo Cần Thơ
Vùng ĐBSCL đang chịu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), hiện tượng thời tiết cực đoan làm ảnh hưởng và thay đổi đến cơ cấu sản xuất. Để thích ứng với tình hình mới, đồng thời chủ động sản xuất thuận tự nhiên thì mô hình “con tôm ôm cây lúa” được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) nhận định là hướng đi bền vững…
Lợi nhuận cao hơn lúa
Nông dân Trà Vinh trồng lúa hữu cơ kết hợp nuôi tôm sú
nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu.
Những ngày này, nông dân huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang) khẩn trương xuống giống vụ tôm – lúa năm 2023 với kỳ vọng được mùa, được giá. Bà Nguyễn Thị Hường, ngụ xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, cho hay: “Sau khi thu hoạch xong lúa đông xuân thì gia đình tranh thủ vệ sinh đồng ruộng, làm ao chu đáo để chờ khi nước mặn về với nồng độ phù hợp là xuống giống hơn 1,6ha tôm sú trên ruộng lúa. Nếu như thời điểm này năm ngoái độ mặn ở đây thấp chỉ khoảng 3‰, còn năm nay tăng từ 10‰ trở lên, đảm bảo tốt cho xuống giống tôm. Sau 3-4 tháng chăm sóc, chỉ cần giá tôm sú dao động 120.000-150.000 đồng/kg là nông dân sống khỏe”.
Với hơn 3ha của mình, ông Nguyễn Văn Tùng, ngụ xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, kể: “Tôi vừa thả giống cách nay vài ngày khi nồng độ mặn ở mức lý tưởng cho tôm phát triển. Với tình hình này bà con hy vọng sẽ được mùa tôm vụ hè thu, sau đó tiếp tục thả giống tôm càng xanh cho vụ thu đông…”. Theo ông Tùng, khu vực nuôi tôm này nằm ngoài đê bao ngăn mặn của huyện Long Mỹ. Trước đây do bị nhiễm phèn, mặn nên nông dân thường chỉ gieo sạ một vụ lúa trong năm, sau đó thì bỏ đất trống; chỉ một số ít hộ đợi mưa xuống gieo sạ thêm một vụ lúa nhưng hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ. Đến mùa khô năm 2016, nước mặn xuất hiện ở đây với nồng độ cao nên bà con chuyển từ canh tác vụ lúa kém hiệu quả, sang mô hình nuôi tôm sú trên đất lúa. Ngành Nông nghiệp và chính quyền địa phương tích cực hỗ trợ bà con về kỹ thuật sản xuất, tìm đầu ra khi đến kỳ thu hoạch… Qua tính toán lợi nhuận thu về của việc nuôi tôm đạt khoảng 60-70 triệu đồng/ha/năm; cộng với tận dụng nguồn thu từ bán tép tự nhiên và các loại cá đồng được thêm 10-20 triệu đồng, tính ra cao hơn nhiều so cây lúa. Ông Lê Hồng Việt, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Long Mỹ, cho biết: “Mọi năm, diện tích nuôi tôm ngoài đê bao ngăn mặn ở huyện khoảng 80ha. Tuy nhiên, năm nay điều kiện thuận lợi nên bà con mở rộng lên khoảng 100ha. Có thể nói, mô hình 1 vụ lúa – 2 vụ tôm, ngoài việc giúp người dân thích ứng với điều kiện hạn mặn thì đây còn là giải pháp giúp bà con có nguồn thu nhập tốt…”.
Tại Cà Mau, mô hình sản xuất lúa hữu cơ kết hợp nuôi tôm sạch của Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Trí Lực (xã Trí Lực, huyện Thới Bình) vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa đảm bảo yếu tố môi trường và bền vững. Ông Lê Văn Mưa, Giám đốc HTX Nông nghiệp Trí Lực, nhớ lại: “Trước đây, một số bà con trồng mía nhưng hiệu quả rất thấp, còn chuyên canh lúa quanh năm thì khó làm giàu. Năm 2018, HTX thành lập và được các ngành chức năng hỗ trợ chuyển đổi mô hình tôm – lúa, gắn liên kết chuỗi giá trị với các doanh nghiệp. Theo đó, hơn 700ha tôm – lúa được áp dụng quy trình sinh thái, được các đơn vị hỗ trợ 50% chi phí về giống, vật tư nông nghiệp. Trong quá trình sản xuất, các ngành chức năng giúp bà con chuyển đổi từng bước như cải tiến hệ thống quản lý nguồn nước, thay đổi thói quen thực hành trong canh tác lúa – tôm phải sử dụng phân, thuốc phù hợp và ghi chép sổ sách. Cứ áp dụng hệ thống chứng nhận theo hướng nâng cấp dần từ VietGAP lên cao hơn; rồi sau đó đánh giá tiêu chuẩn hữu cơ nhằm để nông dân hình thành dần thói quen sản xuất theo chứng nhận. Điều quan trọng là HTX liên kết “đa bên” giữa công ty tôm và công ty lúa nhằm đảm bảo cả tôm và lúa đều đạt chứng nhận, tiêu thụ dễ dàng…”. Tính đến nay, HTX có 252 hộ, với diện tích 565ha tôm đạt chứng nhận quốc tế ASC, năng suất tôm sú từ 341kg/ha trở lên; còn năng suất lúa đạt 5.518kg/ha, với giá lúa bao tiêu từ 7.600-8.500 đồng/kg; nhờ đó, lợi nhuận bình quân của mô hình tôm – lúa đạt 100 triệu đồng/ha/năm, sau khi trừ chi phí.
Mở rộng mô hình tôm – lúa
Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT) cho rằng, thực tế một số nơi ở Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang… cho thấy vùng ĐBSCL có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển mô hình tôm – lúa. Cụ thể, năm 2022 các tỉnh ĐBSCL nuôi gần 190.000ha tôm trên ruộng lúa với sản lượng đạt khoảng 100.000 tấn tôm sú, tôm thẻ chân trắng và trên 20.000 tấn tôm càng xanh. Mô hình đã giúp nông dân thu về lợi nhuận bình quân từ 60-70 triệu đồng/ha/năm. Kế hoạch năm 2023, sản xuất tôm – lúa ở ĐBSCL nâng lên hơn 200.000ha, sản lượng tôm ước đạt 125.000 tấn. Về cơ bản ở ĐBSCL có thể mở rộng thêm diện tích và tăng năng suất. Các địa phương cũng đã thành lập hiệp hội, HTX hoặc tổ hợp tác nhằm liên kết mô hình tôm – lúa đạt hiệu quả cao…
Theo Viện Lúa ĐBSCL, tôm – lúa là mô hình canh tác nông nghiệp thông minh, có mối quan hệ tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa vật nuôi (tôm) và cây trồng (lúa) trong hệ sinh thái đồng ruộng. Chất thải hữu cơ và một số khoáng vi lượng tồn dư của vật nuôi sẽ là nguồn dinh dưỡng cho cây lúa hấp thu sinh trưởng; còn rơm rạ từ cây lúa sẽ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho con tôm. Mô hình còn giảm thiểu chi phí làm đất, phân thuốc; đồng thời tạo ra sản phẩm sạch, an toàn. Tiến sĩ Nguyễn Công Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp hữu cơ Á Châu, nêu thêm ưu điểm khi luân canh tôm – lúa sẽ tạo ra môi trường sinh thái cân bằng và điều kiện an toàn cho cây trồng, vật nuôi. Hạn chế sâu bệnh cho cả lúa và tôm nhờ sự luân phiên để cắt nguồn dịch hại…
Tuy nhiên, mô hình tôm – lúa cũng đang gặp khó khăn như, thiếu hệ thống thủy lợi, kỹ thuật canh tác chưa tối ưu, chưa xây dựng được thương hiệu, chưa phát triển được thị trường tiêu thụ ổn định; nguồn con giống chưa chủ động phải nhập từ nơi khác về; tác động của BĐKH làm cho độ mặn thay đổi, tôm chậm lớn, giảm sức đề kháng…
Các chuyên gia khuyến cáo, tới đây nông dân ĐBSCL nên phát triển mô hình tôm – lúa theo hướng thích ứng với BĐKH, xâm nhập mặn; ứng dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, hiệu quả; xây dựng thương hiệu tôm – lúa. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, cùng các đơn vị liên quan cần hỗ trợ nông dân tham gia sản xuất mô hình nuôi tôm – lúa nhiều hơn. Đồng thời, tăng cường dự báo về thị trường để có kế hoạch sản xuất phù hợp, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Về lâu dài, Bộ NN&PTNT sẽ đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi cho phát triển tôm – lúa ở những vùng thuận lợi. Ông Trịnh Văn Tiến, Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, khẳng định: “Sản xuất tôm – lúa là hướng phát triển bền vững ở ĐBSCL. Cụ thể, qua các sáng kiến mô hình tôm – lúa thời gian qua cho thấy hiệu quả kinh tế đã được kiểm chứng và thừa nhận trong thực tiễn; đặc biệt mô hình này ít ảnh hưởng đến môi trường, đảm bảo bền vững và thuận thiên…”.
Th414

Chủ động ứng phó khô hạn, xâm nhập mặn
Nguồn tin: Báo Cần Thơ
Tại ÐBSCL, tình trạng khô hạn vẫn còn diễn ra, nước trên các con sông, kênh, rạch ngày càng xuống thấp; xâm nhập mặn (XNM) lấn sâu vào nội đồng, đe dọa sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người dân. TP Cần Thơ cũng như các địa phương trong khu vực ÐBSCL tập trung thực hiện nhiều biện pháp phù hợp với tình hình thực tế để chủ động ứng phó…
Nguồn nước trên sông, rạch thuộc địa bàn TP Cần Thơ vẫn còn xuống thấp.
Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, từ đầu tháng 4-2023 đến nay, mưa xuất hiện trên ÐBSCL, với lượng mưa trung bình 15-25mm, trong đó tại khu vực tỉnh Kiên Giang (huyện Hòn Ðất) mưa xuất hiện rất to đến 125mm. Mưa xuất hiện trên diện rộng đã bổ sung nguồn nước ngọt, hạn chế khô hạn, XNM trong khu vực. Dự báo, từ nay đến cuối tháng 4, tại ÐBSCL mưa có khả năng xuất hiện nhiều nơi. Do đó, trong tháng 4 mặn có xu thế giảm trên các cửa sông Cửu Long.
Tại vùng thượng nguồn ÐBSCL, bao gồm phần đất tỉnh An Giang, Ðồng Tháp, thượng nguồn Long An, Kiên Giang và TP Cần Thơ nguồn nước đảm bảo, ngoại trừ các vùng núi cao thuộc Tịnh Biên, Tri Tôn. Vùng giữa ÐBSCL, bao gồm phần đất thuộc TP Cần Thơ, tỉnh Tiền Giang, Long An, Kiên Giang, Hậu Giang, Ðồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long và vùng được kiểm soát mặn ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, tháng 4 mặn với nồng độ 4g/l có thể xâm nhập sâu 40-55km; gió chướng mạnh có thể làm mặn vào sâu 45-60km làm ảnh hưởng đến việc lấy nước của các cống lấy nước. Vùng ven biển ÐBSCL, bao gồm tỉnh Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và tỉnh Kiên Giang được xem là có thể bị ảnh hưởng đến sản xuất cả mặn và ngọt ở vùng này. Mặn bất thường, hạn hán thiếu nước có thể xảy ra ở các vùng chưa có hoàn chỉnh hệ thống kiểm soát mặn. Tháng 4 mặn vào sâu 40-60km và gia tăng chủ yếu khu vực sông Vàm Cỏ, mặn có thể xâm nhập 65-75km. Vì vậy, các địa phương trong vùng cần tăng cường công tác giám sát mặn và cập nhật các bản tin dự báo thường xuyên để kịp thời ứng phó. Ðồng thời, các địa phương cần chú ý vận hành hợp lý các công trình kiểm soát mặn để lấy nước, kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước tưới, sử dụng nước tiết kiệm ở vùng khó khăn về nước do thời tiết nắng nóng và mặn còn duy trì cao vào các kỳ triều cường trong tháng 4 này…
Ðể chủ động các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, XNM mùa khô năm 2023, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do hạn hán, thiếu nước, XNM gây ra, thành phố đã xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, XNM phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Thành phố đã thiết lập các trạm đo mặn phục vụ công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước, XNM, với 2 trạm đo mặn cố định và 1 trạm đo mặn lưu động trên sông Hậu thuộc địa bàn quận Cái Răng; Ðài Khí tượng thủy văn Cần Thơ tổ chức đo đạc, giám sát, cảnh báo XNM tại các khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng XNM để hướng dẫn người dân lấy nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất một cách phù hợp nhất. Tổ chức theo dõi chặt chẽ thông tin dự báo khí tượng, thủy văn để chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, XNM; tổ chức kiểm tra, vận hành các hệ thống công trình thủy lợi hợp lý, đảm bảo nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh…
Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, hiện nay tiềm năng nguồn nước về ÐBSCL được xem là có thuận lợi. Tuy nhiên, do sự phụ thuộc vào vận hành thủy điện trên lưu vực, mặn xâm nhập sâu bất thường có thể xảy ra bởi những biến động dòng chảy ở bất cứ thời gian nào do vận hành thủy điện gây ra. Vì vậy các địa phương cần chủ động xây dựng các giải pháp ứng phó phòng, chống hạn mặn phù hợp với điều kiện của vùng. Vùng thượng ÐBSCL nguồn nước khó khăn chủ yếu ở vùng núi cao Tịnh Biên, Tri Tôn. Vùng giữa ÐBSCL, nguồn nước cơ bản đảm bảo, vận hành hợp lý các công trình kiểm soát mặn và tích nước, khi lấy ngọt hoặc tưới cho cây trồng cần kiểm tra chặt chẽ độ mặn, nhất là đối với cây ăn trái. Vùng ven biển ÐBSCL, XNM có thể làm ảnh hưởng đến nguồn nước và sản xuất ở các hệ thống thủy lợi ven biển như Gò Công, Bắc Bến Tre, vùng ven biển Trà Vinh và hệ thống Long Phú – Tiếp Nhật (tỉnh Sóc Trăng). Do vậy cần chuẩn bị các phương án ứng phó và tích trữ nước hợp lý khi nguồn nước chưa bị ảnh hưởng mặn, đặc biệt là tại các vùng cây ăn trái thuộc huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc – Nam thuộc tỉnh Bến Tre; huyện Kế Sách – tỉnh Sóc Trăng cần đề phòng, trữ ngọt hợp lý… Ðồng thời, các địa phương cần đề phòng mặn còn cao trở lại trong các kỳ triều cường từ ngày 18-22/4/2023 và 2-7/5/2023. Ðáng chú ý, việc giảm xả nước từ các thủy điện ở thượng nguồn thuộc Trung Quốc trong thời gian từ 25-3 đến nay đã kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến diễn biến nguồn nước và XNM vùng ÐBSCL giai đoạn từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5-2023. Việc xuống giống vụ hè thu ở vùng ven biển (cách biển từ 40-50km) nên thực hiện vào cuối tháng 5 khi mưa và nước về ổn định hơn.
Tại TP Cần Thơ, công tác thủy lợi mùa khô, thủy lợi nội đồng ứng phó khô hạn, XNM được ngành chức năng TP Cần Thơ tập trung thực hiện. Ðặc biệt, Sở Tài Nguyên và Môi trường TP Cần Thơ quản lý, tập trung khai thác có hiệu quả từ Dự án nâng cao khả năng chống chịu của TP Cần Thơ để ứng phó XNM do BÐKH gây ra, với các trạm quan trắc môi trường, chất lượng nước tại các sông chính trên địa bàn. Kết quả quan trắc, cảnh báo mặn xâm nhập từ các trạm quan trắc này sẽ được kịp thời cung cấp cho đơn vị chức năng, người dân trên địa bàn ứng phó…
Năm 2023, TP Cần Thơ tập trung phát huy mọi nguồn lực để tăng cường và hoàn thiện hệ thống thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu, như phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi thủy sản, phòng, chống sạt lở các sông, rạch và góp phần phát triển kinh tế – xã hội nông thôn. Các sở, ngành chức năng của thành phố theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, điều kiện khí hậu, khí tượng thủy văn… để triển khai các biện pháp phòng chống thiên tai, ứng cứu kịp thời, có phương án đối phó với mọi tình huống bất trắc do khô hạn, XNM gây ra; thực hiện tốt quy hoạch thủy lợi, quy hoạch phòng, chống sạt lở bờ sông, rạch nhằm giảm thiểu thiệt hại, ảnh hưởng sản xuất của người dân…
Ông Nguyễn Ngọc Hè, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, nhấn mạnh: “Công tác ứng phó khô hạn, đề phòng và cảnh báo XNM được thành phố tập trung thực hiện. Nhất là công tác cảnh báo nhằm kịp thời thông tin về tình hình XNM để các cấp, các ngành và người dân ứng phó. Thời gian tới, thành phố tiếp tục quan tâm, bố trí ngân sách cho công tác phòng ngừa, ứng phó khắc phục hậu quả thiên tai; đa dạng hóa việc huy động nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, XNM, tìm kiếm cứu nạn; triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai ứng phó khô hạn, biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố…”.
Th414

Chuyện về một nông dân sản xuất giỏi khởi nghiệp từ 01 con heo giống
Nguồn tin: Báo Tiền Giang
Với khát vọng thoát nghèo, vươn lên làm giàu từ chính mảnh đất cù lao, ông Dương Tấn Sĩ (51 tuổi, ấp Tân Lợi, xã Tân Thới, huyện Tân Phú Đông) đã khởi nghiệp thành công từ 01 con heo giống.
Ông Sĩ khởi nghiệp thành công với nghề nuôi heo.
*Khởi nghiệp từ 01 con heo giống
Dẫn chúng tôi đi xem trại heo khoảng 400 con của mình, ông Sĩ bồi hồi nhớ lại ký ức về những ngày tháng gian khó. Sau khi xuất ngũ bộ đội, cái nghèo, cái khổ cứ mãi đeo bám nên ông phải đến tận miệt Vĩnh Hưng của tỉnh Long An để làm thuê. Sau khi lập gia đình, ông Sĩ được cha mẹ cho hơn 01 công đất trồng dừa để ra riêng. Thu nhập từ miếng vườn nhỏ không đủ lo cho gia đình nên ông phải đi làm thuê quanh năm. Ban ngày, ông đi vét mương, ban đêm thì đi vác cát, đá thuê.
Vào thời điểm năm 2014, ông Sĩ đến vét mương thuê cho ông Mười Thanh (lúc bấy giờ là Bí thư Đảng ủy xã Tân Thới). Thấy ông Sĩ là người cần cù, ham học hỏi nên ông Mười Thanh đã bán lại 01 con heo giống với giá rẻ, cộng thêm “ưu đãi” là trả từ từ. Ông Sĩ mang con heo giống về nhà xây chuồng để nuôi, bắt đầu hành trình khởi nghiệp với nghề nuôi heo. Lứa đầu tiên, con heo giống này đẻ 9 con, ông Sĩ bán 04 con, để lại 05 con heo sinh sản để gầy giống. Từ 01 con heo giống ban đầu, đến năm 2015, đàn heo của ông Sĩ đã có khoảng 100 con các loại.
Với khát vọng vượt khó, năm 2015, ông Sĩ quyết định lấy thức ăn chăn nuôi về bán tại nhà cho các hộ chăn nuôi xung quanh và cũng giảm chi phí đầu vào cho việc nuôi heo. Ông Sĩ cho biết, thời điểm năm 2017, người nuôi heo điêu đứng khi heo hơi rớt giá thê thảm. Giá heo thịt chỉ còn khoảng 100.000 đồng/03 kg. Rất may, nhờ sự chủ động, nhạy bén, nắm bắt diễn biến thị trường nên năm đó ông không thua lỗ. “Lúc đó, tôi hỏi thăm, cập nhật liên tục tình hình giá cả heo nơi các thương lái. Từ đó, tôi quyết định kéo dài thời gian nuôi heo. Tôi neo lại khoảng 70 con heo đến 01 tạ rưỡi/con mới xuất chuồng. Khi giá heo hơi tăng trở lại, tôi bán ra và thu lợi nhuận. Từ đà này, việc chăn nuôi heo của gia đình tôi tiếp tục phát triển, có tiền mua đất để mở rộng chuồng trại” – ông Sĩ tâm sự.
Đặc biệt, trong năm 2019, dù dịch tả lợn Châu Phi bùng phát trên địa bàn tỉnh gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi, nhưng đây là năm ông Sĩ thắng đậm. “Khi vừa xuất hiện bệnh dịch tả lợn Châu Phi, tôi quyết định bán hết đàn heo của gia đình và thu lợi nhuận khoảng 02 tỷ đồng. Sau khi học hỏi được kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, các doanh nghiệp về chăn nuôi heo an toàn sinh học, tôi quyết định thu mua heo từ bên ngoài về trại để nuôi. Lúc đó, người nuôi heo rất hoang mang nên họ bán bao nhiêu thì tôi mua bấy nhiêu. Thời điểm đó, giá heo tăng cao, thương lái có nhu cầu thì tôi bán lại. Sau khi bán hết số lượng heo mua từ các hộ dân, tôi vệ sinh chuồng trại để tiếp tục nhập heo về nuôi. Tính trong giai đoạn đó, tôi lãi hơn 01 tỷ đồng” – ông Sĩ chia sẻ.
Sau khi có lợi nhuận lớn từ việc nuôi heo, Sĩ đã mua miếng đất mặt tiền Đường tỉnh 877B để đầu tư cửa hàng thức ăn chăn nuôi, vật tư nông nghiệp khang trang, tạo thuận lợi trong việc mua bán.
*Sự sẻ chia
Ngoài việc vươn lên làm giàu từ nghề nuôi heo, ông Sĩ còn tích cực hỗ trợ các hộ nuôi heo trên địa bàn xã cùng nhau phát triển. Theo đó, ông Sĩ đầu tư kinh phí từ heo giống đến thức ăn cho người dân để chăn nuôi. Đến khi hộ dân xuất chuồng lứa heo, ông Sĩ sẽ thu hồi vốn lại. Nếu có lợi nhuận thì sẽ chia theo tỷ lệ thỏa thuận, đảm bảo lợi ích hài hòa. Lúc cao điểm, ông Sĩ đã đầu tư vốn cho khoảng 30 hộ dân trên địa bàn xã để nuôi heo.
Năm 2020, xã Tân Thới được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Với vai trò là Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ nông nghiệp Tân Thới, ông Sĩ đã tập hợp được các hộ dân chăn nuôi heo ở xã tham gia vào HTX. Để HTX hoạt động ổn định, hiệu quả, ông đã chủ động xây dựng liên kết từ đầu vào đến đầu ra. HTX bao tiêu đầu ra, giúp các thành viên an tâm sản xuất, gắn bó với HTX. Điều này giúp xã Tân Thới hoàn thành chỉ tiêu số 13 trong xây dựng nông thôn mới.
Ngoài việc chú trọng hoạt động phát triển sản xuất, kinh doanh, trách nhiệm với cộng đồng, xã hội luôn được ông Sĩ quan tâm và tích cực thực hiện. Bởi ông tâm niệm rằng, quá trình sản xuất phải luôn có sự chia sẻ cùng cộng đồng, xã hội. Theo đó, ông đã tích cực, đi đầu trong tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương.
Với những kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, ông Sĩ đã khởi nghiệp thành công với nghề nuôi heo. Người nông dân “chân lắm, tay bùn” ngày nào giờ đây đã trở thành nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi nhiều năm liền. Ông Sĩ là nông dân tiêu của của huyện Tân Phú Đông và tỉnh trong phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi. Đến nay, ông đã trao tặng nhiều Bằng khen, giấy khen với thành tích nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp tỉnh, huyện, xã nhiều năm liền và vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đó là sự ghi nhận xứng đáng về những nỗ lực vượt khó, vươn lên làm giàu của ông Sĩ trong chặng đường khởi nghiệp.
Anh Thư
Th426