Tin tức

Sầu riêng và những tín hiệu ‘tăng’ từ thị trường
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
Sầu riêng Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội khi nhu cầu đối với loại quả này lớn, không chỉ thị trường Trung Quốc mà nhiều nơi khác.

Thương lái tiến hành thu mua sầu riêng. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Vẫn còn tình trạng tranh mua, tranh bán
Trong những năm gần đây, sầu riêng tiêu thụ thuận lợi, giá luôn ở mức cao, người trồng có lãi lớn, quy mô sản xuất sầu riêng tăng nhanh, nhất là tại các vùng tập trung Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và đặc biệt là vùng Tây Nguyên với phương thức trồng xen sầu riêng trong vườn cà phê.
Theo Bộ NN-PTNT, từ năm 2016 đến 2022, tổng diện tích sầu riêng cả nước tăng từ 32.000ha lên hơn 112.200ha; năng suất bình quân sầu riêng có xu hướng tăng nhẹ trong khoảng 14,7 – 15,7 tấn/ha; đặc biệt sản lượng sầu riêng tăng cao, từ 366.000 tấn lên hơn 863.000 tấn (tăng 11,7%/năm).
Năm 2023, diện tích sầu riêng cả nước đạt khoảng 131.000ha, tăng 20% so với năm 2022, sản lượng đạt khoảng gần 1,2 triệu tấn, tăng 3,5% so với năm 2022.
Hiện cả nước có 34 tỉnh thành trồng sầu riêng. Trong đó, tập trung tại 4 vùng: Tây Nguyên (chiếm 47% diện tích cả nước), ĐBSCL (30%), Đông Nam bộ (19%), duyên hải Nam Trung bộ (4,2%). 4 tỉnh có diện tích trên 10.000ha và sản lượng trên 50.000tấn/năm gồm Đắk Lắk, Lâm Đồng, Tiền Giang, Đồng Nai.
Hai giống chủ lực gồm Ri6 và Dona. Trong đó, giống Ri6 phổ biến tại các tỉnh vùng ĐBSCL, giống Dona sử dụng nhiều hơn tại vùng Tây Nguyên (chiếm 60 – 70% trong cơ cấu diện tích).
Việt Nam có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi trồng sầu riêng. Thời vụ thu hoạch sầu riêng quanh năm, giúp sầu riêng Việt Nam cạnh tranh hơn so với Thái Lan (thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 8). Sầu riêng chính vụ tại vùng ĐBSCL thu hoạch từ tháng 4 đến tháng 8; vùng Tây Nguyên thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 10; vùng Đông Nam bộ từ tháng 4 đến tháng 7 và vụ nghịch vụ tại ĐBSCL từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Theo số liệu Bộ Công thương, giá sầu riêng có sự biến động lớn theo nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thuận lợi. Đối với sầu riêng chính vụ từ tháng 4 – 9, giá cả có sự biến động không lớn. Tuy nhiên, vào các tháng nghịch vụ từ tháng 1 – 3 thì giá sầu riêng có sự biến động mạnh.
Từ tháng 11/2023 đến tháng 2/2024, giá sầu riêng tăng cao vì chỉ có sầu riêng các tỉnh ĐBSCL. Sầu riêng Ri6 từ 120.000 – 150.000 đồng/kg; sầu riêng Dona từ 140.000 – 190.000 đồng/kg. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Ông Vũ Đức Côn, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk cho rằng, thời gian qua, Bộ NN-PTNT, các cơ quan Trung ương, địa phương đã tập trung chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển ngành hàng sầu riêng. Bên cạnh đó, cộng đồng doanh nghiệp, bà con nông dân có trách nhiệm trong việc xây dựng quy trình kỹ thuật, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Qua đó, giá sầu riêng trên thị trường năm qua tăng cao, giúp nông dân, doanh nghiệp tăng thu nhập, ổn định sản xuất.
Tuy nhiên, ông Côn nhìn nhận, ngành hàng sầu riêng vẫn đứng trước nhiều khó khăn thách thức. Đơn cử như, vùng sản xuất sầu riêng còn nhỏ lẻ, chưa có vùng nguyên liệu rộng lớn, trình độ kỹ thuật của nông dân còn thiếu và yếu cả về tư duy sản xuất hàng hóa chuyên nghiệp theo quy định của nước nhập khẩu. Việc liên kết giữa đại diện vùng trồng, các đơn vị xuất khẩu với người dân chưa thực sự công khai, minh bạch, rõ ràng, chưa bền vững.
“Nhiều cơ sở sau khi được cấp mã số vùng trồng, đóng gói thiếu sự duy trì chất lượng, chưa tuân thủ đầy đủ các quy định kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu, chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp kỹ thuật làm sạch sinh vật gây hại trên hàng hóa trước khi xuất khẩu…
“Tình trạng gian dối, đánh cắp mã số vùng trồng; tranh mua, tranh bán; tình trạng chốt giá sớm, nông dân sẵn sàng bẻ cọc hợp đồng… dẫn đến khó phát triển ngành hàng bền vững”, ông Côn nêu.
Ngoài ra, hiện nay, chưa có Nghị định hoặc Thông tư hướng dẫn cụ thể về công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng; chưa có chế tài xử lý các hành vi vi phạm… Công tác ứng dụng thông tin chưa được thông suốt quá trình từ sản xuất, đến thu hoạch, sơ chế, đóng gói và xuất khẩu.
Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk cho biết, trong thời gian tới, địa phương sẽ hoàn thiện Đề án phát triển ngành hàng sầu riêng, bơ giai đoạn 2025 tầm nhìn 2030 trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức triển khai. Trong đó, ưu tiên phát triển thành vùng chuyên canh để thuận lợi cho áp dụng cơ giới hóa và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, phổ biến các thông tin về quy hoạch trồng sầu riêng thông qua các kênh truyền thông cho nông dân cập nhật.
Nhiều nông dân tại vùng ĐBSCL, Đồng Nai, Đắk Lắk trở thành tỷ phú nhờ trồng sầu riêng đạt chất lượng. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Sản lượng tăng ít nhất 20%
Dù mới tham gia vào thị trường xuất khẩu chính ngạch, nhưng sầu riêng Việt Nam đã lập kỷ lục tăng trưởng đột phá, trở thành “vua trái cây” của Việt Nam, với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,2 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, Nhật, Úc… chủ yếu là quả tươi và cấp đông.
Đặc biệt, lợi thế gần thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới – Trung Quốc giúp chi phí logistic giảm. Bên cạnh đó, tác động của khủng hoảng Biển Đỏ làm cho hàng hóa các nước đi vào thị trường Trung Quốc gặp nhiều khó khăn về thời gian, vận chuyển, chi phí. Việt Nam đã ký kết 17 Hiệp định thương mại tự do, với nhiều ưu đãi về thuế suất. Đây là lợi thế cạnh tranh cho sầu riêng nói riêng và rau quả Việt Nam nói chung khi xuất sang thị trường Trung Quốc.
Theo số liệu của Tổng Cục Hải quan, năm 2023, Trung Quốc chi trên 6,7 tỷ USD (trên 1,4 tấn) để nhập sầu riêng. Trong đó, sầu riêng Thái Lan khoảng 928.000 tấn (trên 4,5 tỷ USD); Việt Nam gần 494.000 tấn (trên 2,1 tỷ USD); Philippines trên 3.700 tấn (13,2 triệu USD).
“Phía Trung Quốc đã cấp hơn 700 mã số vùng trồng sầu riêng của Việt Nam (năm 2023 hơn 400 mã). Và hiện Bộ NN-PTNT cũng đang tiếp tục đàm phán với phía bạn về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sầu riêng, cũng như việc cho phép xuất khẩu chính ngạch sầu riêng cấp đông. Dự báo, năm nay sản lượng sầu riêng tăng hơn năm ngoái ít nhất khoảng 20%. Sầu riêng Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng cao, nhất là tại thị trường Trung Quốc và ASEAN”, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp Hội Rau quả Việt Nam nhận định.
Theo dự báo của nhiều chuyên gia, sẽ có thêm nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam nói chung, sầu riêng nói riêng. Năm 2024 và những năm tiếp, dự báo xuất khẩu sầu riêng tiếp tục có những thuận lợi. Thị trường truyền thống Trung Quốc tiếp tục có xu hướng tăng về nhu cầu nhập khẩu sầu riêng. Ngoài ra, nhiều thị trường khác đã và đang quan tâm nhập khẩu sầu riêng Việt Nam, trong đó có Thái Lan..
Hiện Bộ NN-PTNT đang đàm phán với Ấn Độ để xuất khẩu sầu riêng chính ngạch và đang đàm phán xuất sầu riêng cấp đông vào Trung Quốc, như vậy, dư địa xuất khẩu sầu riêng là rất lớn. Tuy nhiên, để chiếm lĩnh thị trường thì chất lượng vẫn là yếu tố quyết định.
Đồng Nai là tỉnh đứng thứ 4 trong cả nước về diện tích trồng sầu riêng với gần 11.350ha. Cây sầu riêng đã giúp nhiều nông dân ở Đồng Nai thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Năm 2024, tỉnh Đồng Nai tiếp tục mở rộng mã số vùng trồng, nâng cao chất lượng của các mã số vùng trồng được cấp, áp dụng công nghệ canh tác, đảm bảo truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Để chuỗi ngành hàng sầu riêng phát triển bền vững trong thời gian tới, tỉnh đẩy mạnh khuyến khích nông dân, HTX, doanh nghiệp thực hiện theo đúng, đủ theo các quy chuẩn của thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, cũng như thu hút đầu tư vào chế biến sâu, nhằm nâng cao chất lượng sầu riêng của Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung.
Th307

Chủ động thích ứng với mùa khô Tây Nguyên
Nguồn tin: báo Đăk Lăk
Cà phê là cây trồng có nhu cầu nước rất lớn vào mùa khô. Để thích ứng với biến đổi khí hậu, ngoài việc cung cấp đủ nước thì cần nhiều giải pháp phát triển xanh cho các vùng nguyên liệu cà phê của tỉnh.
Chủ động nguồn nước tưới
Ông Y Phông (buôn Ea Ktur, xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin) cho hay, gia đình ông có khoảng 7 sào đất trồng xen canh cà phê và hồ tiêu. Gắn bó với cây cà phê hơn 10 năm nay, ông Y Phông nhận định, việc chăm sóc cây cà phê quan trọng nhất là thời điểm tưới nước.
Nếu tưới muộn, cây sẽ bị rụng lá, khô cành, còn tưới sớm khi cây chưa phân hóa mầm hoa sẽ làm cho cà phê nở hoa không đều, khó khăn trong thu hoạch và ảnh hưởng đến năng suất. Do đó, nguyên tắc tưới cho cây cà phê là phải đúng lúc, đủ nước.
Chính vì vậy, trước Tết Nguyên đán Giáp Thìn khoảng một tuần, gia đình ông đã tiến hành cắt tỉa cành và tranh thủ tưới nước đợt một cho cây cà phê. Đến ngày mùng 10 Tết, gia đình lại tiếp tục tưới đợt hai nhằm bảo đảm cung cấp đủ nước cho cây trong thời kỳ ra hoa, đậu trái.
Bà Lê Thị Thảo (thôn 9, xã Ea Ning, huyện Cư Kuin) tưới đợt hai cho vườn cà phê của gia đình. |
Giống như nhiều hộ trồng cà phê, những ngày này, bà Lê Thị Thảo (thôn 9, xã Ea Ning, huyện Cư Kuin) cũng đang tập trung tưới nước đợt hai cho vườn cà phê của gia đình.
Theo bà Thảo, sau khi thu hoạch, cây cà phê đã suy kiệt, nên người trồng phải cung cấp chất dinh dưỡng kịp thời cho cây bằng cách bón phân, tưới nước. Bình quân mỗi năm người trồng cà phê phải tưới 3 đợt cho cây, còn năm nào thời tiết nắng nóng kéo dài phải tưới 4 – 5 đợt mới đảm bảo cây đủ nước. Hiện gia đình đang sử dụng phương pháp tưới dí từ nguồn nước giếng khoan để tưới cho cây cà phê.
Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cư Kuin Y Tong Bkrông cho biết, trên địa bàn huyện có 39 hồ, đập và một số suối cạn, giếng khoan… phục vụ tưới cho 12.072 ha cà phê. Tình hình nguồn nước cơ bản đáp ứng được nhu cầu tưới cho cây trồng trong mùa khô.
Tuy nhiên, trước diễn biến thất thường của khí hậu trong năm 2024, đơn vị đã chủ động tham mưu cho UBND huyện về phương án phòng, chống hạn trên địa bàn nhằm đảm bảo vụ sản xuất hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại do hạn hán gây ra.
Tại xã Ea Kao (TP. Buôn Ma Thuột), hiện các hộ dân trồng cà phê cũng đang tập trung tưới đợt hai. Theo cán bộ phụ trách nông nghiệp của địa phương, toàn xã có 1.600 ha cà phê, trong đó có 80% diện tích đang thời kỳ kinh doanh.
Hiện nay đang bắt đầu bước vào cao điểm mùa khô của Tây Nguyên, theo dự báo thì khả năng mùa khô năm nay sẽ diễn ra gay gắt hơn mọi năm nên nguy cơ diện tích cà phê bị thiếu nước rơi vào khoảng 10% (160 ha).
Do đó, xã đã phối hợp với Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi (Chi nhánh Buôn Ma Thuột) thực hiện tích nước ở hồ Ea Kao, điều tiết nước hợp lý ở các cánh đồng lúa để bảo đảm nước tưới cho cây cà phê trong mùa khô cạn.
Thích ứng trong dài hạn
Theo số liệu năm 2023, Đắk Lắk hiện có trên 200.000 ha cà phê, trong đó diện tích tưới từ công trình thủy lợi là 58.806 ha; diện tích còn lại được tưới từ các sông, suối, ao, hồ, giếng…
Để bảo đảm nguồn nước tưới cũng như việc phát triển bền vững cho cây cà phê trong mùa khô, ngoài đầu tư xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi thì việc phát triển sản xuất xanh được nhiều hộ nông dân chú trọng ứng dụng.
Ông Lê Văn Tâm (thôn Cao Thắng, xã Ea Kao, TP. Buôn Ma Thuột) cho biết, gia đình ông có 4,5 ha cà phê, trong đó có 2 ha đang tái canh. Những năm trước, cứ vào mùa khô là gia đình rất lo lắng về nước tưới vì vườn không có cây che bóng, cỏ được làm sạch, nên khi trời nắng kéo dài khoảng chục ngày là vườn cây khô héo rất nhanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất nếu không kịp tưới.
Sau này, các hộ dân liên kết sản xuất với doanh nghiệp, được hướng dẫn các phương pháp canh tác bền vững bằng cách trồng cây che bóng, trồng xen canh các loại cây (hồ tiêu, cây ăn trái…), trồng thảm cỏ phủ dưới đất nhằm xây dựng đa tầng tán trên vườn cà phê. Nhờ đó, khi vào mùa khô, vườn cây vẫn tươi tốt, lượng nước, phân bón, thuốc bảo vệ cũng được nông dân dùng ít lại.
Hơn thế, sản phẩm được nâng cao giá trị vì đáp ứng được xu hướng tiêu dùng xanh của thị trường thế giới. Bên cạnh đó, để tiết kiệm nước tưới, hộ ông Tâm còn đầu tư hệ thống tưới phun mưa cho 3 ha.
“Mặc dù chi phí ban đầu hơi nhiều, nhưng về lâu dài thì nông dân rất khỏe. Chỉ cần mở van tưới và căn thời gian tưới phù hợp, sau đó nông dân sẽ tranh thủ làm việc khác, không phải tốn lao động cho công việc tưới như trước đây”, ông Tâm chia sẻ.
Nông dân xã Ea Drông, TX. Buôn Hồ tưới đợt hai cho vườn cà phê. |
Theo Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), trên thực tế, cây cà phê chỉ cần lượng nước từ 340 – 400 lít/cây/lần. Nếu tưới mức như vậy, nông dân có thể tiết kiệm được hơn 50% lượng nước so với cách tưới dí như hiện nay. Đặc biệt, tưới nước vừa đủ sẽ giúp người dân giảm đáng kể lượng phân bón cho cây do không bị nước dư thừa cuốn trôi.
Ngoài ra, trong cơ cấu giống, hiện WASI đã nghiên cứu và sản suất thành công 4 dòng cà phê vối chín muộn (TR9, TR11, TR12, TR13) nhằm chuyển dần thời gian thu hoạch cà phê vào đúng mùa khô và giảm được lượng nước tưới cho cây khi không phải trải qua mùa khô kéo dài như những giống khác.
Hiện toàn tỉnh có trên 45.670 ha áp dụng quy trình sản xuất bền vững, chiếm khoảng 22,12% diện tích cà phê toàn tỉnh. Ngành nông nghiệp đã chủ động, tích cực tham gia vào việc thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi, phát triển kinh tế xanh và tiếp tục thực hiện công tác tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới cho người dân trồng cà phê để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu và xu hướng tiêu dùng của thị trường thế giới.
Minh Thuận – Thúy Nga
Th226

Giá sầu riêng tiếp tục tăng cao
Nguồn tin: Báo Long An
Những ngày qua, giá sầu riêng liên tục tăng cao, nhiều nhà vườn không có sầu riêng để bán cho thương lái. Nguyên nhân khiến sầu riêng tăng giá là do thiếu hụt nguồn cung.
Ngành Nông nghiệp tỉnh thường xuyên tuyên truyền, vận động người trồng sầu riêng xây dựng mã số vùng trồng để phục vụ nhu cầu xuất khẩu
Thông tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sầu riêng là một trong những loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, diện tích sầu riêng tăng khá nhanh với hơn 500ha, tập trung nhiều ở các huyện: Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng,…
Ngay từ đầu năm 2024, nhà vườn trồng sầu riêng trái vụ trên địa bàn tỉnh đã phấn khởi khi giá bán tại vườn ở mức cao. Với mức giá sầu riêng như hiện tại, theo tính toán của các nhà vườn, dù phải đầu tư lớn để xử lý ra quả trái vụ nhưng lợi nhuận mang về lên đến 1 tỉ đồng/ha.
Hiện tại, sầu riêng Monthong loại 1 có giá từ 190.000-202.000 đồng/kg, loại 2 khoảng 175.000 đồng/kg. Sầu riêng Ri6 loại 1 có giá 120.000-126.000 đồng/kg, loại 2 có giá 100.000 đồng/kg.
Ông Nguyễn Văn Chính (xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh) cho biết: “Hiện sầu riêng Ri6 được thương lái thu mua tại vườn với giá khoảng 100.000-120.000 đồng/kg. Sầu riêng tăng giá do đang vào mùa nghịch nên nguồn cung giảm. Hiện tại, vườn nhà tôi cũng không còn nhiều do đã thu hoạch 2 đợt trước tết”.
Hiện nay, ngành Nông nghiệp tỉnh tích cực tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt các khâu an toàn trong sản xuất, đóng gói sầu riêng; đồng thời, tăng cường tập huấn, truyền thông các quy định về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, trong đó, chú trọng hướng dẫn các tổ chức, cá nhân áp dụng đúng quy trình canh tác, ghi chép hồ sơ, nhật ký trong quá trình sản xuất để phục vụ truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu của nước nhập khẩu.
Cùng với đó, ngành Nông nghiệp tỉnh cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất, hình thành các vùng trồng sầu riêng tập trung, quy mô lớn, bảo đảm tiêu chuẩn để cấp mã số vùng trồng, cấp mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu./.
Minh Tuệ
Th226

Cà phê Sơn La được mùa, giá cao chưa từng thấy
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
Tới cuối mùa thu hoạch, giá cà phê chè ở Mai Sơn (Sơn La) đạt đỉnh 15.000 đồng/kg tươi, tăng gần gấp 2 lần so với niên vụ năm 2022 – 2023.
Ông Lò Văn Khánh ở bản Lam, xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn (Sơn La) kể, trồng cà phê từ năm 2008 nhưng chưa thấy khi nào thấy cà phê được mùa, được giá như niên vụ 2023 – 2024 mới đây. Đầu vụ bán được 10.000 – 11.000 đồng/kg cà phê tại vườn, ông Khánh đã rất vui vì giá cao hơn mùa vụ trước 2.000 – 3.000 đồng/kg. Không ngờ, giá cà phê tiếp tục tăng đều đặn, tới cuối mùa thu hoạch (30/1/2024) đạt đỉnh 15.000 đồng/kg tươi, tăng gần gấp 2 lần so với niên vụ năm 2022 – 2023.
Người dân Sơn La phấn khởi nhờ cà phê được mùa, được giá. Ảnh: Hải Tiến.
Vụ vừa rồi, ông Khánh cũng có 1ha cà phê cho thu hoạch gần 20 tấn quả, bán được 230 triệu đồng, cao hơn vụ cà phê năm trước 7 tấn quả về năng suất và 70.000 triệu đồng về trị giá sản lượng. Nhờ đó, ông có dư tiền sang tận xã Chiềng Nơi cách nhà 50km để thuê đồi trồng thêm 2ha cà phê. Theo ông Khánh, so với cây sắn và cây lúa, trồng cà phê luôn cho thu nhập cao gấp nhiều lần.
Ông Khánh cho biết, để trồng cà phê cho năng suất quả cao, ông phải chọn những khu đồi không quá dốc, tầng canh tác dày, đất có màu vàng đỏ, thuận tiện cho thiết kế đường đồng mức để đi lại trồng, chăm sóc và thu hái cà phê. Đặc biệt, vùng trồng cà phê phải có điều kiện thời tiết tương tự như xã Chiềng Chung và chọn trồng giống cà phê chè TN2 đầu dòng, chăm bón bằng các loại phân tổng hợp giàu canxi (vôi) và magie (MgO) như NPK Văn Điển, vì đất đồi ở đây thường có độ chua khá cao.
Cùng xã Chiềng Chung, ông Lò Văn Khải trồng 1,5ha cà phê, thu hoạch được 36 tấn quả, doanh thu 450 triệu đồng, lãi 230 triệu đồng. Ông Khải cho biết, trồng cà phê cơ bản chỉ tốn công chăm sóc và thu hái, bao tiêu đã có thương lái đến mua tận vườn. Ông Khải cũng rất muốn mở rộng diện tích trồng cà phê, nhưng quỹ đất của gia đình và tại địa phương không còn, đi thuê nơi khác thì chưa sắm được xe ô tô nên phải đẩy mạnh thâm canh vườn cà phê đang có và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm để tăng thu nhập.
Ông Hà Văn Phấn, Trưởng bản Lam (xã Chiềng Chung) cho biết, cây cà phê được trồng ở đây từ hơn nửa thế kỷ trước nên hầu như hộ nào tại địa phương nào cũng có đồi cà phê, tổng diện tích cà phê toàn xã ước đạt trên 700ha. Ngoài ra, các hộ vẫn có ruộng gieo cấy lúa và trồng kinh doanh rau xanh các loại. Nhờ vậy, không ít gia đình trong xã đã mua được ô tô làm dịch vụ vận tải hoặc chở khách du lịch, kết hợp thuê, nhượng thêm đất cho trồng cà phê ở những xã vùng sâu, xa hơn.
Vườn cà phê của ông Lò Văn Khánh (bản Lam, xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn) cây nào quả cũng sai trĩu cành. Ảnh: Hải Tiến.
Sở dĩ cây cà phê chè (Arabica) trồng ở huyện Mai Sơn có thể cho thu hoạch muộn đến hết tháng 1/2024 ở xã Chiềng Chung và một số địa phương khác có độ cao trung bình khoảng 1.200m so mặt nước biển, địa hình có nhiều núi và khe suối, tạo cho nhiệt độ không khí trung bình ở đây thấp hơn chừng 5 độ C so với những xã nằm trên cao nguyên Nà Sản (ven Quốc lộ 6), do vậy cà phê trồng trong khu vực này thường ra hoa, đậu quả và kết thúc mùa vụ thu hoạch muộn hơn cà phê trồng ở các địa phương khác. Qua đó đã giúp rải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch cà phê trên địa bàn, giảm áp lực thị trường, tăng giá trị sản phẩm và hiệu quả sản xuất.
Mặt khác, mặc dù có đặc điểm khí hậu nhiệt đới và thời tiết 4 mùa, nhưng lượng mưa ở Chiềng Chung và một số xã trong khu vực lại chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến 9, mùa khô tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chênh lệch nhiệt độ không khí ngày đêm cũng khá cao (khoảng 12 – 15 độ C) nên cây cà phê thường tăng trọng quả vào mùa mưa, không cần tưới nước trái vẫn to, hạt mẩy đều, tỷ lệ hạt khô/quả tươi đạt 30%, tỷ lệ này ở các xã trồng cà phê ở khu vực cao nguyên Nà Sản chỉ đạt 23%.
Cùng với đó, việc thu hoạch cà phê vào mùa khô rất thuận lợi cho thu hái và phơi sấy. Đây là những lợi thế riêng cho cây cà phê chè trồng ở những khu vùng đồi cao như xã Chiềng Chung nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Đó cũng là lý do ông Khánh phải kén chọn những khu vực có đặc điểm thời tiết như Chiềng Chung để thuê đất mở rộng diện tích trồng thâm canh cây cà phê.
Cà phê cho thu hoạch vào mùa khô rất thuận tiện cho phơi khô ngoài nắng gió. Ảnh: Hải Tiến.
Theo Sở NN-PTNT Sơn La, toàn tỉnh hiện có gần 21.000ha cà phê chè trồng tại huyện Mai Sơn (hơn 8.500ha), Thuận Châu (gần 6.000ha), còn lại ở các huyện Yên Châu, Sốp Cộp và TP Sơn La. Trong đó có khoảng 19.000ha cà phê đang thời kỳ khai thác kinh doanh, sản lượng cà phê nhân đạt 34.345 tấn.
Từ nhiều năm nay, Sơn La đã hình thành được các mô hình liên kết sản xuất và chế biến cà phê tinh chất. Có 4 sản phẩm cà phê đã được UBND tỉnh Sơn La cấp chứng nhận OCOP (1 sản phẩm cà phê bột nguyên chất 5 sao, 3 sản phẩm 4 sao là Aratay Coffee, Coffee Arabica Minh Trí và Trà quả cà phê.
Tỉnh Sơn La đã được Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ KH-CN) bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm cà phê từ năm 2017. Cà phê chè Sơn La có vị chua nhẹ, không hợp thị hiếu người tiêu dùng trong nước, nhưng có giá trị xuất khẩu rất cao sang các quốc gia châu Âu vì phù hợp khẩu vị.
Tới đây, cà phê Sơn La sẽ cho năng suất, chất lượng cao hơn nữa nhờ các ngành chuyên môn tỉnh này đang cùng các nhà nông trên địa bàn đẩy nhanh tốc độ cải tạo, tái canh bằng các giống mới thay thế giống cà phê chè Catimor đã già cỗi, chất lượng thành phẩm không cao sang trồng cây cà phê chè đầu dòng Arabica L, kết hợp với tăng cường thâm canh theo hướng bền vững,
Th219

Nhiều diện tích lúa đông xuân bị nhiễm sâu bệnh
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
ĐBSCL Sở NN-PTNT Vĩnh Long cho biết, từ đầu tháng 2 trên địa bàn tỉnh có 4.994ha lúa đông xuân bị nhiễm sâu bệnh, chủ yếu gây hại trên trà lúa làm đòng đến chắc xanh.
Ngành nông nghiệp các tỉnh ĐBSCL khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng, phát hiện sớm sâu bệnh để phòng trừ. Ảnh: Hồ Thảo.
Theo nông dân tại các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng…, thời điểm này, do thời tiết nắng nóng, ẩm độ không khí khá cao, kết hợp các trà lúa đang bước vào giai đoạn đòng đến trổ nên tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh gây hại trên lúa đông xuân.
Sở NN-PTNT tỉnh Vĩnh Long cho biết, từ đầu tháng 2, trên địa bàn tỉnh có 4.994ha lúa đông xuân bị nhiễm sâu bệnh, chủ yếu gây hại trên trà lúa làm đòng đến chắc xanh.
Diện tích lúa bị đối tượng gây hại nhiều nhất là rầy nâu (1.453ha, mật số rầy từ 500 – 650 con/m2), tập trung nhiều ở huyện Tam Bình (1.147ha); kế đến là bệnh đạo ôn 989ha (tỷ lệ nhiễm 5 – 10%) và sâu cuốn lá 738ha (mật số 5 – 10 con/m2).
Tại Trà Vinh trong tuần qua, hệ thống giám sát côn trùng thông minh trong tỉnh cũng đã phát hiện rầy nâu, rầy lưng trắng và sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy xanh đuôi đen, muỗi hành… xuất hiện với mật độ cao nhất 216 con/bẫy đèn.
Theo Sở NN-PTNT tỉnh Trà Vinh, dự báo thời gian tới, sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện gây hại trên trà lúa giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng; bệnh đạo ôn lá, chuột sẽ xuất hiện rải rác trên trà lúa đẻ nhánh và bệnh bạc lá, vàng lá sinh lý do thời tiết sẽ xuất hiện, gây hại trên trà lúa đòng đến trổ.
Ông Lê Trường Sơn, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Trà Vinh khuyến cáo bà con nông dân thăm đồng thường xuyên để phát hiện sâu, bệnh và phòng trừ kịp thời, đặc biệt chú ý sâu cuốn lá nhỏ nở và gây hại.
Đối với vụ đông xuân, cây lúa rất dễ mẫn cảm với điều kiện thay đổi của thời tiết, thường có hiện tượng vàng lá sinh lý và ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa, nhất là trong điều kiện thời tiết ngày nắng nóng, đêm lạnh và gió mạnh như hiện nay.
Ông Sơn đề nghị bà con nông dân bón phân cân đối, không bón thừa phân đạm, tăng cường phun phân bón lá chứa hàm lượng canxi, silic… giúp lá lúa dày và cứng, hạn chế tối thiểu tổn thương do gió. Đặc biệt lưu ý trên những chân ruộng thiếu nước, sạ dày, bón thừa phân và ruộng canh tác giống nhiễm có thể bị thiệt hại nặng hơn.
Th130

Nông nghiệp và Niềm tin
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
ĐỒNG THÁP Thách thức lớn nhất hiện nay trong chuỗi giá trị nông sản đó là liên kết sản xuất, hợp tác tiêu thụ giữa doanh nghiệp và nông dân do chưa tìm được tiếng nói chung.
Tọa đàm “Nông nghiệp và Niềm tin”. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Ngày 26/1, UBND huyện Lai Vung (Đồng Tháp) phối hợp với Văn phòng đại diện Báo Nông nghiệp Việt Nam khu vực ĐBSCL tổ chức tọa đàm “Nông nghiệp và Niềm tin”, với sự tham dự của đại diện lãnh đạo sở, ngành của tỉnh và các chuyên gia ngành nông nghiệp.
Theo đó, thách thức lớn nhất hiện nay trong chuỗi giá trị nông sản đó là vấn đề liên kết sản xuất, hợp tác tiêu thụ giữa doanh nghiệp và bà con nông dân do chưa tìm được tiếng nói chung. Đa số các doanh nghiệp hiện nay thu mua nông sản qua thương lái, ngược lại nông dân cũng chỉ có thể thông qua thương lái để tiêu thụ sản phẩm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do thiếu niềm tin và chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất và doanh nghiệp. Với mong muốn tháo gỡ những mắt xích vừa nêu, các chuyên gia đã mổ sẻ vấn đề.
GS Nguyễn Thơ – Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thực vật Việt Nam kiêm Phó Chủ tịch Hội bệnh lý cây trồng Việt Nam. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Theo quan điểm của GS Nguyễn Thơ, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thực vật Việt Nam kiêm Phó Chủ tịch Hội bệnh lý cây trồng Việt Nam nhận định, giá trị của nông sản chính là sự kết tinh những thành quả phát triển và thúc đẩy quá trình liên kết hợp tác. Không có con đường nào khác là phải sản xuất an toàn để tạo niềm tin cho tất cả chủ thể trong chuỗi ngành hàng.
Vì thế, hiện nay, các địa phương và cả bộ ngành Trung ương khuyến cáo sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, an toàn và bền vững. Người sản xuất cần phải nắm chắc, thành thạo những vấn đề cho ra sản phẩm an toàn, bán giá cao và giúp nông dân giảm giá thành, tăng thêm thu nhập.
Ông Lê Quốc Điền – Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Ông Lê Quốc Điền, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Tháp cho rằng: Đồng Tháp có thế mạnh phát triển mô hình kinh tế tập thể. Các HTX, Tổ hợp tác và Hội quán đã giúp việc liên kết tiêu thụ nông sản thuận lợi hơn. Riêng đối với huyện Lai Vung có nhiều chủng loại cây ăn trái đặc sản như: quýt hồng, quýt đường, cam xoàn, bưởi, mận, sầu riêng, mãng cầu, nhãn, thanh long… đang phục vụ xuất khẩu đòi hỏi người nông dân cần nắm vững kỹ thuật canh tác tốt hơn.
Hiện nay, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đang hỗ trợ huyện Lai Vung phát triển HTX và xây dựng nông dân chuyên nghiệp để tạo ra vùng nguyên liệu chất lượng cao cho xuất khẩu. Nếu không làm tốt các vấn đề của các nhà nhập khẩu đưa ra thì nông dân chúng ta sẽ bị bỏ lại phía sau và nông sản bán giá thấp.
Tại buổi tọa đàm, các chuyên gia chia sẻ thông tin tổng quan về kết quả thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; Đẩy mạnh phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ, bền vững, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao gắn với liên kết; Xây dựng các mô hình nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào khởi nghiệp từ các sản vật nông nghiệp địa phương.
Thách thức lớn nhất hiện nay trong chuỗi giá trị nông sản là vấn đề liên kết sản xuất. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Ông Nguyễn Hữu Hiền, Phó Chủ tịch UBND huyện Lai Vung cho rằng: Thách thức lớn nhất hiện nay trong chuỗi giá trị nông sản là vấn đề liên kết sản xuất, hợp tác tiêu thụ giữa doanh nghiệp và bà con nông dân, do chưa tìm được tiếng nói chung.
Giá trị của mặt hàng nông sản được xem là kết tinh những thành quả phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tư duy kinh tế nông nghiệp của bà con nông dân và thúc đẩy quá trình liên kết hợp tác.
Không có con đường nào khác là phải tạo được niềm tin cho tất cả các chủ thể trong chuỗi sản xuất. Niềm tin giữa những người sản xuất, doanh nghiệp, đối tác, nhà lãnh đạo để dẫn dắt con đường phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, có như thế mới tạo ra được niềm tin của người tiêu dùng đối với mặt hàng nông sản, thúc đẩy việc gắn kết phát triển du lịch thành công.
Ông Nguyễn Hữu Hiền – Phó Chủ tịch UBND huyện Lai Vung. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Thông qua tọa đàm, từ chia sẻ của các nhà khoa học, nhà quản lý, các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân trên địa bàn huyện sẽ có thêm niềm tin vào nông nghiệp.
Trong đó, thể hiện niềm tin của người dân vào chủ trương của Đảng, sự kiến tạo của chính quyền các cấp, vào ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tự tin về năng lực sản xuất của mình, tin vào giá trị và sức mạnh của quá trình liên kết, hợp tác sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu thụ.
Theo ông Huỳnh Minh Trí, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Lai Vung, thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, huyện tập trung phát triển các ngành chủ lực lúa, rau màu, cây ăn trái (trong đó, chủ lực là cây có múi) và hoa kiểng theo hướng sản xuất quy mô lớn, tập trung, theo chuỗi giá trị và từng bước tiêu chuẩn hóa hệ thống nuôi trồng gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc.
Diện tích sản xuất cây ăn trái, rau màu theo quy trình VietGAP, diện tích sản xuất đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, đã được cấp giấy chứng nhận trên 366ha, có 124 vùng trồng được cấp mã số với diện tích 5.750ha. Huyện đã xây dựng được 3 nhãn hiệu nông sản cụ thể gồm: quýt hồng Lai Vung, cam xoàn Lai Vung và quýt đường Lai Vung.
Nhìn chung, nông nghiệp Lai Vung hằng năm duy trì được tăng trưởng, năm 2023, giá trị sản xuất ngành nông, thủy sản của huyện khoảng 4.123 tỷ đồng, tăng 3,95% so năm 2022, các mô hình sản xuất hiệu quả, sản xuất hữu cơ, an toàn, truy xuất nguồn gốc dân được quan tâm.
Tuy nhiên, tình trạng sản xuất theo phong trào, sản xuất theo kinh nghiệm còn diễn ra, sản xuất manh mún, thiếu hợp tác còn nhiều, chưa kêu gọi được doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp theo chuỗi giá trị tại địa phương. Nhiều HTX nông nghiệp chưa phát huy hết vai trò liên kết, hợp tác giữa thành viên với nhau và liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Các mô hình liên kết hiện có chưa vững chắc, bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế, các sản phẩm chế biến từ nông sản địa phương chưa nhiều. Vì vậy, cần tiếp tục quan tâm thực hiện nhiều giải pháp phù hợp trong thời gian tới.
Ông Võ Hoàng Cương – Bí thư Huyện ủy Lai Vung. Ảnh: Kim Anh.
Ông Võ Hoàng Cương, Bí thư Huyện ủy Lai Vung cho rằng: Trong chuỗi giá trị nông sản, niềm tin rất quan trọng. Bà con nông dân tin tưởng vào chất lượng sản phẩm mình làm ra, doanh nghiệp và nông dân tin tưởng lẫn nhau để xây dựng mối liên kết bền chặt. Doanh nghiệp lại phải xây dựng được niềm tin với đối tác và người tiêu dùng. Và người dân tin tưởng vào cơ quan quản lý Nhà nước trong việc truyền tải, dẫn dắt, phát triển kỹ thuật, khoa học công nghệ.
Để xây dựng được những niềm tin này là cả một quá trình dài với sự nỗ lực của nhiều bên, từ người sản xuất, cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Từ đó tạo thành chiến lược quyết định cho sự thành bại của ngành nông nghiệp.
Và cuối cùng, người tiêu dùng bỏ tiền ra không phải để mua mặt hàng nông sản và mua niềm tin, giá trị kết tinh trong mặt hàng nông sản đó. Một khi đã tạo dựng thành công niềm tin, sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác trong đó có du lịch. Tiêu biểu là du lịch nông thôn, một loại hình đang phát triển mạnh tại huyện Lai Vung và khu vực ĐBSCL.
Th130

Miền Tây chống mặn: Vựa trái cây ‘tung nhiều chiêu’ ứng phó hạn mặn
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
ĐBSCL Bên cạnh các giải pháp công trình, ngành chức năng đã hướng dẫn, tuyên truyền người dân nhiều giải pháp để đảm bảo nguồn nước, ứng phó xâm nhập mặn.
Nông dân tham quan mô hình tưới nước hợp lý cho cây sầu riêng nhằm hạn chế ảnh hưởng của hạn mặn. Ảnh: Minh Đảm.
Đa dạng giải pháp giữ nước ngọt
Tiền Giang là địa phương có diện tích cây ăn trái lớn nhất ĐBSCL với diện tích trên 86.000ha. Theo Sở NN-PTNT Tiền Giang, năm nay địa phương còn khoảng 35.000ha cây ăn trái chịu ảnh hưởng trực tiếp của hạn, mặn, bao gồm sầu riêng, cây có múi, vú sữa…
Có nguy cơ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do mặn và cần được bảo vệ là khu vực thuộc các xã cặp sông Tiền từ xã Phước Thạnh (TP Mỹ Tho) đến xã Hòa Hưng (huyện Cái Bè), chủ yếu là cây sầu riêng với diện tích 22.000ha.
Bên cạnh các giải pháp công trình, ngành chức năng đã hướng dẫn, tuyên truyền người dân nhiều giải pháp để đảm bảo nguồn nước, ứng phó xâm nhập mặn cũng như thực hiện các giải pháp kỹ thuật đã đúc kết từ những năm qua.
Cù lao Ngũ Hiệp thuộc huyện Cai Lậy là địa phương trồng chuyên canh cây sầu riêng sớm nhất của tỉnh với diện tích gần 1.500ha, 100% diện tích này đang trong thời kỳ kinh doanh.
Những năm xâm nhập mặn diễn ra gay gắt, địa phương này thường xuyên bị nước mặn tấn công từ sông Tiền và cả sông Hàm Luông (tỉnh Bến Tre). Đáng quan tâm là hiện nay, xã Ngũ Hiệp chỉ mới xây dựng được 3/8 cống ngăn mặn, chống triều cường.
Thời điểm này, dù nước mặn chưa xâm nhập đến địa bàn nhưng chính quyền và nhân dân cù lao Ngũ Hiệp đang khẩn trương thực hiện các biện pháp phòng chống hạn mặn có thể xảy ra trong mùa khô đang cận kề.
Theo khuyến cáo của ngành chức năng, bên cạnh thực hiện các giải pháp công trình là đắp các đập tạm, nhiều giải pháp phi công trình cũng được nông dân cù lao đẩy mạnh ứng dụng như nạo vét kênh mương, đào ao, lót bạt tích trữ nước ngọt, không để cây mang trái vào mùa khô hạn, dùng cỏ khô che phủ gốc cây để giảm thất thoát hơi nước…, nhất là chú trọng tiết kiệm nước tưới tiêu.
Về giải pháp kỹ thuật, bà con nông dân cần chú trọng xử lý cây ra hoa, cho trái nghịch vụ với tỷ lệ thực hiện chiếm khoảng 70%. Theo kinh nghiệm, hàng năm bà con thường lựa chọn xử lý ra hoa một trong hai vụ sầu riêng. Vụ thuận thường có thời điểm thu hoạch vào khoảng tháng 3 – 5 âm lịch. Vụ nghịch thường kết thúc thu hoạch trước Tết Nguyên đán.
Năm nay, các nhà khoa học dự báo hạn mặn xâm nhập sâu nên đa số bà con chuyển hướng sang mùa nghịch, thu hoạch xong vào khoảng tháng Chạp. Khi nước mặn tới, cây đã ra được 1 – 2 cơi đọt nên đã khỏe mạnh hơn. Còn nếu để ra trái mùa thuận, bà con sẽ xử lý ra hoa vào khoảng tháng 11 – 12, ra giêng cây mang trái ngay mùa hạn mặn sẽ dễ suy kiệt dẫn đến chết cây. Nếu tình hình hạn mặn gay gắt, bà con sẽ cân nhắc bỏ vụ 1 năm.
Ông Nguyễn Văn Minh, nhà vườn có 8 công sầu riêng đang cho thu hoạch tại ấp Tân Sơn, xã Ngũ Hiệp (huyện Cai Lậy) chia sẻ, rút kinh nghiệm từ các năm trước đây nên công tác chủ động trữ nước chống hạn được ông rất quan tâm.
Sau khi thu hoạch xong lứa sầu riêng này, ông tiến hành các bước phục hồi cho cây nhằm tăng cường sức chống chịu nếu không may nước mặn xâm nhập sâu.
Đặc biệt, ông đã gia cố đê bao, kiểm tra kỹ cống bọng và theo dõi sát sao tình hình dự báo xâm nhập mặn để nhanh chóng tích đầy nước trong mương vườn khi độ mặn tăng cao.
Hiện nay, nông dân Tiền Giang đã áp dụng phổ biến tưới nước tiết kiệm cho cây sầu riêng vào mùa khô. Ảnh: Minh Đảm.
“Vườn của mình có ống bọng đậy kỹ càng, nếu có mặn mình canh lúc nước ròng, mặn bị đẩy về phía hạ nguồn, độ mặn giảm mới lấy nước bổ sung. Thứ hai nữa là sử dụng nước giếng pha để giảm độ mặn. Những năm trước sầu riêng chết là do gia đình chủ quan, còn bây giờ biết rồi thì không sợ đâu”, ông Nguyễn Văn Minh nói.
Còn ông Trình Văn Sỹ, nhà vườn trồng 1ha sầu riêng tại ấp Tân Đông cũng cho biết, từ đầu năm ông đã đào ao trữ nước và lắp đặt các mô tơ để bơm tưới tiết kiệm phục vụ trong mùa khô này.
Nếu mặn lên, ông chỉ cần đóng bọng lại, lượng nước tích trữ trong ao, mương sẽ cầm cự được trong 1 tháng. Khi sử dụng hết lượng nước trữ mà mặn chưa rút thì ông sẽ thuê ghe chở nước ngọt về cấp bổ sung vào các mương, không để khô đáy mương, tránh xì phèn.
Chính quyền xã Ngũ Hiệp (huyện Cai Lậy) tuyên truyền người dân tích trữ nước, che phủ cỏ giữ ẩm gốc cây, tưới tiết kiệm nước nhằm hạn chế ảnh hưởng của hạn mặn. Ảnh: Minh Đảm.
Theo ghi nhận tại vườn ông Sỹ, hầu hết các hệ thống phục vụ việc trữ nước đã được áp dụng. Qua theo dõi các thông tin dự báo, ông Sỹ đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng để bảo vệ vườn, bởi nếu sơ suất, nước mặn tràn vào vườn, thiệt hại không thể tránh khỏi.
Đầu tư các giải pháp công trình
Về giải pháp công trình ngăn mặn cho xã Ngũ Hiệp, trước mắt, chính quyền địa phương đã có văn bản đề nghị huyện, tỉnh cho xây dựng 5 cống ngăn mặn dã chiến với kinh phí khoảng 6 tỷ đồng và khoan thêm 2 giếng tầng sâu để giúp địa phương ứng phó với hạn mặn mùa khô sắp tới.
Ngoài ra, chính quyền, đoàn thể xã cũng tuyên truyền, vận động người dân áp dụng các biện pháp công trình, phi công trình để bảo vệ vườn cây đặc sản, cũng là kinh tế chính của gần 100% hộ dân nơi đây.
Bà Nguyễn Hồng Thương, Chủ tịch UBND xã Ngũ Hiệp cho biết, xã đã tuyên truyền người dân tích trữ nước, che phủ cỏ để giữ ẩm gốc cây, tưới tiết kiệm nước. Ngoài ra, tiến hành sửa chữa các tuyến đê, các nắp cống bị hư hỏng để khi có thông báo hạn mặn xảy ra thì đóng các cống, đê lại để khép kín. Hiện nay, người dân trong xã đã áp dụng giải pháp xử lý cây sầu riêng nghịch vụ nên sẽ né được các tháng hạn mặn sắp tới.
Theo bà Võ Thị Kim Phương, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Tiền Giang, qua thực tế sản xuất và kinh nghiệm phòng chống hạn mặn trong mùa khô 2019 – 2020, các kỹ thuật đặc biệt quan trọng, cần phải được tuân thủ áp dụng để bảo vệ cây ăn trái trong mùa khô gồm: Ngăn mặn, trữ ngọt; tăng cường khả năng chống chịu của cây; luôn giữ mực nước trong mương vườn khoảng 20 – 30cm; không để cây mang trái quá nhiều; giữ ẩm cho đất, giảm lượng nước tưới và các giải pháp khác như tỉa cành tạo tán, phòng trừ bệnh cho cây…
Để chủ động ứng phó hạn mặn trong mùa khô 2024, người dân trồng sầu riêng xã Ngũ Hiệp đã chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp trữ nước cần thiết. Ảnh: Minh Đảm.
Ngành nông nghiệp địa phương cũng khuyến cáo bà con nông dân theo dõi, cập nhật các thông tin, dự báo về diễn biến hạn, xâm nhập mặn để có biện pháp ứng phó kịp thời. Bên cạnh đó, giữ vệ sinh nguồn nước, không xả rác và nước nhiễm bẩn vào nguồn cung cấp nước nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong mùa khô.
Ngoài ra, cần tập trung giải phóng các chướng ngại vật lòng kênh, khai thông dòng chảy trên các tuyến kênh trục, kênh cấp 1, cấp 2, cấp 3; thường xuyên tổ chức trục vớt, trục đẩy lục bình, duy trì thông thoáng lòng kênh, rạch.
“Theo dõi độ mặn để lấy nước ngọt phải kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước để tưới cho cây phù hợp với khả năng chịu mặn của từng loại cây trồng. Đồng thời, chọn thời điểm thích hợp để lấy nước ngọt theo khuyến cáo, không để mương vườn bị khô kiệt, không cho phèn có điều kiện hoạt động ảnh hưởng đến cây trồng”, bà Phương khuyến cáo.
Sầu riêng là cây trồng chủ lực của nhà vườn xã Ngũ Hiệp nói riêng và tỉnh Tiền Giang nói chung. Do đó, cùng với sự nỗ lực của chính quyền và người dân địa phương, các ngành chức năng tỉnh Tiền Giang cần quan tâm, hỗ trợ trong công tác phòng chống hạn mặn để bảo vệ an toàn vườn cây đặc sản nơi đây.
Ngày 15/1, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Công điện số 04/CĐ-TTg về việc chủ động ứng phó với nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
Công điện nêu rõ, trong thời kỳ cao điểm (khoảng tháng 2 – 4) có thể xảy ra thiếu nước ngọt cục bộ, xâm nhập mặn vào sâu các cửa sông. Để chủ động ứng phó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ NN-PTNT tổ chức theo dõi sát diễn biến và có dự báo chuyên ngành về nguồn nước, chất lượng nước và nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn để cung cấp thông tin cho các địa phương và người dân.
Đồng thời, hướng dẫn các địa phương tổ chức sản xuất, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương và UBND cấp tỉnh có liên quan chỉ đạo vận hành linh hoạt, hiệu quả các hệ thống thủy lợi nhằm khai thác, sử dụng hiệu quả, tối ưu tài nguyên nước, bảo đảm nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp…
Th124

Nhộn nhịp vụ mùa Đông Xuân
Nguồn tin: báo Long An
Những ngày này, các cánh đồng vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An bắt đầu thu hoạch rộ vụ lúa Đông Xuân. Năm nay, giá lúa cao, lại trúng mùa nên nông dân Tân Thạnh rất phấn khởi, nhất là khi Tết Nguyên đán đang đến gần làm cho niềm vui như được nhân đôi.
Vụ lúa Đông Xuân 2023-2024, nông dân huyện Tân Thạnh xuống giống hơn 29.000ha, hiện thu hoạch khoảng 5.000ha
Ngay từ sáng sớm, trên các cánh đồng ở huyện Tân Thạnh, dễ dàng bắt gặp hình ảnh những chiếc máy gặt đập liên hợp đang khẩn trương thu hoạch diện tích lúa đã chín. Từng đoàn người vác lúa trên cánh đồng làm cho không khí vụ mùa vùng quê trở nên sôi động.
Vụ lúa Đông Xuân năm nay, ông Nguyễn Văn Mạnh (ấp Huỳnh Tịnh, xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh) sản xuất hơn 2ha nếp. Với giá bán hiện nay tại ruộng gần 9.000 đồng/kg, trừ hết chi phí, ông Mạnh có lợi nhuận 35-40 triệu đồng/ha. “Vụ lúa Đông Xuân năm nay, nhờ thời tiết thuận lợi, sâu, bệnh ít phát sinh, đặc biệt là chọn giống lúa chất lượng và tuân thủ lịch gieo sạ của ngành Nông nghiệp khuyến cáo nên không chỉ năng suất đạt cao mà chi phí lại thấp, lúa bán được giá. Vụ này, nông dân ai nấy đều phấn khởi” – ông Mạnh chia sẻ.
Nghề vác lúa cũng vào mùa, tạo thêm thu nhập cho người dân
Cùng niềm vui như ông Nguyễn Văn Mạnh, ông Đinh Văn Mười (ấp Nguyễn Bảo, xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh) nói: “Vụ Đông Xuân năm nay, gia đình canh tác hơn 1,5ha lúa, thu hoạch hơn 8 tấn, bán cho thương lái với giá 9.900 đồng/kg. Sau khi trừ hết chi phí, tôi còn lợi nhuận gần 70 triệu đồng. Lúa năm nay được mùa, trúng giá nên có điều kiện đón tết sung túc hơn”.
Vụ lúa Đông Xuân 2023-2024, nông dân huyện Tân Thạnh xuống giống hơn 29.000ha, hiện thu hoạch khoảng 5.000ha. Các giống được sử dụng là OM18, Đài thơm, IR4625. Đây là khoảng thời gian nhộn nhịp nhất của vụ lúa Đông Xuân. Nông dân cùng nhau ra đồng, đợi máy thu hoạch chở lúa về từ sớm.
Chủ tịch Hội Nông dân huyện Tân Thạnh – Trần Thanh Hiền cho biết: Cùng với đẩy nhanh tiến độ thu hoạch lúa Đông Xuân, nông dân trong huyện cũng chuẩn bị đầy đủ giống, vật tư, phân bón,… để sẵn sàng sản xuất vụ tiếp theo. Hội Nông dân huyện đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nông dân ứng dụng khoa học – kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất để có vụ mùa bội thu”.
Những chuyến xe chở lúa chạy bon bon trên đường quê đổi mới cùng những nụ cười rạng rỡ và niềm vui hiện rõ trên nét mặt nông dân. Đó là sự phấn khởi trước mùa vàng bội thu. Những cánh đồng như nhuộm lên màu nắng, trải rộng mênh mông. Nắng và gió quyện với mùi thơm lúa chín tạo nên mùi hương đồng nội nhẹ nhàng. Với người dân Tân Thạnh, cây lúa không chỉ có giá trị kinh tế nông nghiệp mà còn là đời sống văn hóa, là hồn quê./.
Chí Tâm
Th124

Trồng na Thái thu nhập cao
Nguồn tin: Báo Cần Thơ
Cách đây 6 năm, anh Phan Minh Tâm, ở khu vực Thới Bình 1, phường Thuận An, quận Thốt Nốt (TP Cần Thơ) quyết định chuyển 4 công đất trồng bưởi, xoài sang trồng na Thái. Hiện nay, thu nhập của anh Tâm tăng gấp 5 lần so với trước đây.
Anh Phan Minh Tâm giới thiệu mô hình trồng na Thái với cán bộ, đoàn viên trong phường.
Khoảng 1 tuần nữa, anh Tâm sẽ thu hoạch vụ na Thái thứ hai trong năm. Anh đã liên hệ các thương lái đến vườn thu mua. Hằng ngày, anh Tâm ra vườn để kiểm tra trái, chuẩn bị thu hoạch dứt điểm trước Tết Nguyên đán năm 2024. Hiện nay, na trong vườn của anh Tâm phát triển đồng đều, các trái nặng trên 350gr… Na có màu sắc đẹp, thương lái bước đầu chốt giá 55.000 đồng/kg với những trái nặng trên 300gr. Anh Tâm cho biết: “Người thu mua na Thái hiện giờ khá đông. Giá trái na luôn ổn định, 6 năm qua tôi chưa bao giờ rơi vào cảnh “được mùa mất giá”. Tháng 7-2023, tôi đã thu hoạch một đợt na, lãi hơn 120 triệu đồng”.
Trước đây, 4 công đất vườn của gia đình anh Phan Minh Tâm trồng các loại cây, như xoài, bưởi, cam… Tuy chăm sóc vất vả, nhưng đến khi thu hoạch thì trái cây sụt giá. Trăn trở về một mô hình kinh tế làm vườn mới có thể tăng thu nhập, anh Tâm lên mạng tìm hiểu về cách trồng na Thái. Tích cóp vốn liếng gần 70 triệu đồng, anh Tâm mua cây giống, đầu tư hệ thống tưới nước tự động… trồng na Thái. Anh Tâm thường xuyên học tập kinh nghiệm từ nông dân trồng na ở trong quận cũng như tìm hiểu các kiến thức trồng, chăm sóc cây na Thái thông qua bạn bè trên mạng xã hội. 6 năm qua, các cây na trong vườn nhà anh Tâm luôn sai trái, thương lái mua với giá cao…
Hiện nay, anh Tâm đang trồng 320 cây na Thái. Cây na trồng khoảng 15 tháng là cho đợt trái đầu tiên. Mỗi năm thu hoạch 2 vụ vào giữa và cuối năm. Sau mỗi vụ na, anh Tâm cắt cành; tiến hành các bước để cây ra lá, ra trái. Khi bắt đầu cho trái, cây na thường bị sâu bệnh tấn công nên anh Tâm phải theo dõi để phòng trừ bệnh kịp thời. Anh Tâm cũng thường xuyên kiểm tra, chăm sóc để trái na có màu đẹp. Anh Tâm cho biết: “Trước đây, tôi trồng các loại cây khác cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng/năm. Nhưng giờ thì thu nhập của tôi đã tăng gấp 5 lần, là động lực để tôi phát triển mô hình. Tôi dự định sẽ thuê thêm 4 công đất vườn để trồng na Thái”.
Theo chị Huỳnh Thị Kim Ngân, Bí thư Ðoàn phường Thuận An, anh Phan Minh Tâm là điển hình thanh niên làm kinh tế giỏi của phường. Bên cạnh đó, anh Tâm tích cực tham gia các hoạt động Ðoàn, Hội ở địa phương. Anh Tâm nhiệt tình chia sẻ kiến thức trồng na Thái, tham gia các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật cho đoàn viên, thanh niên trong quận… Sắp tới, Ðoàn phường sẽ phối hợp hỗ trợ anh Tâm mua cây giống với giá ưu đãi cũng như kết nối các đoàn viên, thanh niên đến học tập kinh nghiệm trồng na Thái của anh Tâm nhằm đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp ở địa phương.
Bài, ảnh: PHẠM TRUNG
Th122

Sagri kiến nghị cho quy hoạch vùng chăn nuôi công nghệ cao trên diện tích 650ha
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
TP.HCM Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (Sagri) kiến nghị thành phố cho quy hoạch một vùng chăn nuôi công nghệ cao tại xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi.
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan cùng các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày tại Hội nghị. Ảnh: Phan Đạt.
Sagri đạt và vượt 100% các chỉ tiêu Thành phố giao
Chiều 19/1, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (Sagri) tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác xây dựng Đảng năm 2023; phương hướng, nhiệm vụ năm 2024. Tham dự có Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Hồ Hải; Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan.
Ông Phạm Thiết Hòa, Tổng Giám đốc Sagri cho biết, năm 2023 dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong giai đoạn suy thoái kinh tế, lạm phát, nhưng với sự quan tâm, hỗ trợ của lãnh đạo Thành ủy, UBND TP.HCM, Đảng ủy Khối doanh nghiệp Thành phố, cùng sự đồng lòng của tập thể cán bộ công nhân viên, Sagri đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh được UBND Thành phố giao.
Tổng doanh thu năm 2023 Sagri đạt hơn 1.319 tỷ đồng, nộp ngân sách 73,8 tỷ đồng, đạt 124,5% kế hoạch; thu nhập bình quân người lao động là gần 16 triệu đồng/người/tháng. Sagri đạt và vượt 100% các chỉ tiêu thành phố giao. Dù gặp nhiều khó khăn, song 4 năm gần đây, Sagri đều hoàn thành kế hoạch đặt ra, đóng góp vào kết quả phát triển kinh tế – xã hội chung của thành phố, đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động.
Ông Phạm Thiết Hòa, Tổng Giám đốc Sagri. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Lãnh đạo Sagri cho biết, năm 2024, Tổng Công ty tập trung thực hiện các mục tiêu đặt ra. Phấn đấu tổng doanh thu năm 2024 đạt trên 1.355 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế là gần 52,6 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế là trên 42 tỷ đồng; thu nhập bình quân người lao động là hơn 16,4 triệu đồng/người/tháng; giá trị sản xuất là gần 478 tỷ đồng.
Đặc biệt, tiếp tục thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh có hiệu quả theo kế hoạch phát triển đầu tư giai đoạn 2021 – 2035 đã được UBND TP.HCM phê duyệt. Trong đó, thực hiện 3 chương trình của Đảng ủy: phát triển nguồn nhân lực; thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm hoàn thiện chuỗi quy trình khép kín; Xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm mang thương hiệu Sagri gắn với Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) của thành phố.
Theo ông Phạm Thiết Hòa, muốn tồn tại và phát triển, Sagri buộc phải đầu tư, mở rộng trang trại chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao từ khâu kiểm soát đầu vào cho đến mọi hoạt động của trang trại; ứng dụng công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn gốc.
Ngoài ra, năm 2024, Sagri đẩy nhanh tiến độ thực hiện 2 dự án lớn là nhà máy giết mổ gia súc và chế biến thực phẩm giai đoạn 2 và nhà máy giết mổ gia cầm; nghiên cứu sản xuất các giống cây con công nghệ cao.
Tập trung hoàn thiện và phát triển chuỗi quy trình khép kín “Thức ăn chăn nuôi, Con giống, Chăn nuôi, Giết mổ, Chế biến thực phẩm, Thị trường tiêu thụ”, gắn với bộ tiêu chí ESG nhằm tạo ra sản phẩm xanh – sạch – an toàn – chất lượng có thể đáp ứng được các thị trường khó tính trong thời gian tới. Đồng thời, xây dựng mới kho chứa nguyên liệu, khu nhà hành chính và căng tin tại Nhà máy thức ăn chăn nuôi Sagrifeed; Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn heo, gà tại các cơ sở chăn nuôi của Tổng Công ty.
Đặc biệt, Tổng Giám đốc Sagri kiến nghị thành phố cho quy hoạch một vùng chăn nuôi công nghệ cao với diện tích 650ha tại xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi (hiện là đất của Công ty Bò sữa).
“Mô hình này sẽ vực dậy cả khu vực nông thôn ngoại thành. Đây là nét son của vùng chăn nuôi thành phố, kéo những người nông dân manh mún nhỏ lẻ, tập trung tiêu thụ hàng hóa, ứng dụng công nghệ, xử lý về môi trường. Đây sẽ là dấu ấn của nông nghiệp thành phố và là mô hình để liên kết vùng với các tỉnh phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Qua đó, mở rộng quy mô ngành chăn nuôi, tăng cơ cấu đàn vật nuôi”, ông Hòa nhấn mạnh.
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan phát biểu chỉ đạo hội nghị. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan đánh giá cao những kết quả hoạt động kinh doanh cũng như công tác xây dựng Đảng của Sagri trong năm 2023. Bên cạnh kết quả đạt được, ông Hoan nhìn nhận, Sagri đang giữ được sự cơ bản ổn định trong khó khăn nhưng chưa thực sự bứt phá đi lên, mà đang “co cụm lại”. Đặc biệt, nhiều chuồng trại cơ sở vật chất chăn nuôi còn ọp ẹp; cơ sở vật chất chưa quản lý tốt, chưa tạo ra tiền từ đó; nhiều dự án còn chậm tiến độ… cần tập trung tháo gỡ, kiến nghị thành phố tháo gỡ trong thời gian tới.
“Doanh nghiệp nhà nước của thành phố đang rơi vào tình trạng từ thái cực bung ra để sản xuất kinh doanh thì lại co cụm trở lại, làm sao cổ phần hóa. Ai cũng sợ, tất cả đều sợ. Thành phố phải chấn chỉnh việc này, nếu không thì không thể cứu vãn các doanh nghiệp nhà nước”, ông Hoan nói và đề nghị Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn tập hợp những khó khăn vướng mắc để kiến nghị để UBND TP.HCM xây dựng đề án tháo gỡ vướng mắc của các doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa.
Đặc biệt, lãnh đạo thành phố cho rằng, doanh nghiệp và từng cá nhân cần phải thay đổi mạnh mẽ cả về suy nghĩ và hành động. Trong đó, mỗi cán bộ, người lao động phải năng động, sáng tạo và đi đúng đường, làm đúng chức năng, đúng nhiệm vụ, đúng thẩm quyền, đúng pháp luật để sản xuất kinh doanh hiệu quả và phát triển bền vững trong tương lai.
Ông Hoan cũng yêu cầu, Tổng Công ty tiếp tục thực hiện sản xuất hướng năng lượng xanh, tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo; thực hiện nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất theo quy chuẩn, quy trình, ứng dụng công nghệ xanh. Đặc biệt, quan tâm quản lý tài sản công có hiệu quả, đúng pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước. Đoàn kết trong nội bộ.
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan trao tặng bằng khen của UBND TP.HCM cho 11 tập thể lao động xuất sắc năm 2023 thuộc Sagri. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Dịp này, UBND TP.HCM trao tặng danh hiệu tập thể lao động xuất sắc cho 11 tập thể và Bằng khen cho 1 tập thể và 9 cá nhân đã có thành tích hoàn thành xuất sắc hai năm liên tục.
Th318