Tin tức

‘Đắng – ngọt’… với cà phê
Nguồn tin: Kinh tế sài gòn online
(KTSG Online) – Người trồng cà phê ở nhiều địa phương năm nay rất phấn khởi khi thu hoạch được giá cao và có lúc lên tới 70.000 đồng/kg. Giá hạt cà phê lên cao nhất suốt hàng chục năm qua cũng khiến doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này vui lây vì phần nào sẽ giúp người trồng có hy vọng để gắn bó sau nhiều năm giá tuột dốc mạnh.
Dù vậy, vẫn có không ít doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này buồn bã với kết quả sau thuế bị sụt giảm, thậm chí là thua lỗ, đặc biệt là một số doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Niên vụ 2022-2023, người trồng cà phê ở nhiều địa phương năm nay rất phấn khởi khi thu hoạch được giá cao và có lúc lên tới 70.000 đồng/kg.
“Vị ngọt” đến với người trồng cà phê
Sau rất nhiều năm cầm cự với giá từ trung bình đến thấp, hiện nông dân trồng cà phê lại nhiều tỉnh thành như Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đắc Nông, Bình Phước… phần nào đã thấy được hy vọng từ loại cây trồng này.
Bởi lẽ, niên vụ thu hoạch cà phê 2022-2023 vừa qua, nhiều người trồng cà phê rất phấn khởi khi cà phê được giá rất cao. Giá cà phê có lúc lên tới 70.000 đồng/kg, mức giá cao nhất suốt hàng chục năm qua.
Gia đình chị Ánh Mai, hộ nông dân trồng cà phê ở Buôn Hồ (Đắk Lắk) mùa vụ vừa qua thu hoạch được 3 tấn cà phê nhân đầy phấn khởi khi lần đầu tiên bán được giá trên dưới 55.000 đồng/kg.
“Mười mấy năm rồi, năm nay cà phê có giá cao nhất”, chị Ánh Mai nói, và cho biết: “Cũng thật là may mắn khi gia đình tôi vẫn duy trì trồng cây cà phê đến hiện nay. Bởi có thời điểm giá cà phê chỉ trên dưới 25.000 đồng/kg. Không đủ vốn và công sức bỏ ra nên gia đình tôi từng có ý định chặt bỏ cây cà phê chuyển sang trồng loại cây khác”.
Còn gia đình anh Lê Văn Dũng ở Bình Phước có hơn 2 héc ta cà phê cho thu hoạch gần 38 tấn quả tươi. Sau nhiều năm chán nản vì giá cà phê hạt xuống thấp, năm nay, giá thu mua đã tăng bật trở lại, khiến người trồng cà phê rất vui. Hơn 10 năm trồng cà phê, chưa khi nào ông Dũng chứng kiến giá cà phê “đạt đỉnh” như năm nay. Giá thu mua cà phê tươi hiện nay khoảng 12.000 đồng/kg cao so với 9.000 đồng/kg năm ngoái.
Niềm vui không chỉ riêng với hộ chị Ánh Mai hay gia đình anh Văn Dũng mà nhiều người nông dân trồng cà phê trong niên vụ thu hoạch vừa qua đã gặt hái được “trái ngọt” sau nhiều năm phải “ngậm vị đắng” vì giá cà phê thấp kéo dài, không đủ tiền vốn và công sức bỏ ra… Nhiều người vì thấy trồng cây cà phê không hiệu quả nên cũng đã chặt bỏ chuyển sang trồng cây khác như tiêu, sầu riêng, chuối, bơ…
Người trồng cà phê ở nhiều địa phương năm nay rất phấn khởi khi thu hoạch được giá cao và có lúc lên tới hơn 70.000 đồng/kg. Ảnh minh họa: N.K
Nhiều năm qua, nông dân trồng cà phê vẫn luôn cầm cự trong mức giá từ rất thấp đến trung bình và không thể đảm bảo cuộc sống nếu chỉ trông chờ vào cà phê.
Dù vậy, đa số các hộ trồng cà phê lâu năm vẫn duy trì diện tích cây trồng này. Cà phê mất mùa – mất giá hoặc được mùa – mất giá, được giá – mất mùa là câu chuyện thường xuyên lặp lại nhiều năm qua khiến không nhiều nông dân còn giữ được niềm tin để tiếp tục tái canh loại cây này. Còn với những nông hộ đã gắn bó, kiên trì với cây cà phê suốt nhiều năm qua, giờ đây được xem là lúc họ tận hưởng thành quả “ngọt ngào” khi thu hoạch.
Có thể thấy giá cà phê năm nay đã giúp người trồng giải quyết được nhiều vấn đề cũng như tái đầu tư cho mùa vụ sau. Chị Ánh và anh Dũng cũng thể hiện niềm vui hạnh phúc và cho rằng với giá cà phê như hiện nay giúp người trồng như anh chị được niềm tin và hy vọng để tiếp tục theo đuổi canh tác trồng cây cà phê. Cả hai người cũng tin rằng cái Tết sắp đến, gia đình sẽ sung túc và nhà cửa sẽ đủ đầy hơn mọi năm.
… và “vị đắng” với các nhà chế biến xuất khẩu
Nhờ giá cà phê tăng rất cao mà dù niên vụ cà phê 2022-2023 (từ tháng 10-2022 đến tháng 9-2023) có sản lượng thấp hơn niên vụ trước đó, nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng cao.
Theo số liệu của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (Vicofa), niên vụ cà phê 2022-2023 (từ tháng 10-2022 đến tháng 9-2023), xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,66 triệu tấn, giảm 4,5% so với niên vụ 2021-2022. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu vẫn tăng 3,4% lên mức kỷ lục 4,08 tỉ đô la Mỹ nhờ giá tăng cao.
Đây cũng là mức kim ngạch cao nhất trong các niên vụ từ trước đến nay. Giá xuất khẩu cà phê trung bình của Việt Nam đạt 2.451 đô la/tấn, tăng 5,5% so với niên vụ trước.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Vicofa, cho biết trong gần 30 năm của ngành cà phê xuất khẩu, chưa bao giờ giá cao như năm nay khi giá nội địa từng ghi nhận mốc 71.000 đồng/kg (năm 2011 – thời hoàng kim của cà phê, giá chỉ 50.000 đồng/kg).
Dù giá cà phê năm 2023 tăng cao, nhưng trước đó, nhiều diện tích cà phê đã chuyển đổi để trồng sầu riêng, cây ăn trái… do những năm trước giá cà phê xuống quá thấp, nông dân chưa đầu tư nhiều cho cây cà phê (trừ các công ty cà phê và một số hợp tác xã).
Mặt khác, yếu tố biến đổi khí hậu, nhất là hiện tượng El Nino gây khô hạn, ảnh hưởng lớn đến sản lượng cà phê robusta cả nước. Điều này dẫn đến lượng cà phê đến tay các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này có thời điểm trở nên khan hiếm. Trong những năm qua, cũng chưa bao giờ tháng 8 mà lượng cà phê của Việt Nam đã cạn, nhưng trong năm đã xảy ra.
“Doanh nghiệp kinh doanh cà phê lâu năm cũng bất ngờ vì sản lượng cà phê thực tế của Việt Nam năm nay ít hơn hẳn so với dự báo. Điều này khiến cho lượng cà phê xuất khẩu cuối vụ thiếu hụt so với mọi năm”, một vị đại diện của Vicofa chia sẻ.
Điều này dẫn đến có thời điểm khi nhiều doanh nghiệp đã bán trước vào đầu vụ lúc giá còn thấp, hoặc có doanh nghiệp ký hợp đồng bán trước với giá thấp, khi thu mua hàng thì thị trường tăng giá dẫn đến thua lỗ. Đáng chú ý, cà phê tăng giá cũng khiến các doanh nghiệp phải bỏ vốn nhiều hơn trong khi vốn là điểm yếu của doanh nghiệp Việt, nhất là khi so sánh với các tập đoàn nước ngoài.
Tại Hội nghị Cà phê Quốc tế châu Á diễn ra ở TPHCM gần đây, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT Intimex Group và là Phó Chủ tịch Vicofa, cũng cho biết giá tăng cao và nhu cầu nhập hàng lớn khiến cho cà phê Việt Nam bị khan hiếm kéo dài, điều mà chưa từng thấy trong lịch sử ngành cà phê trong 30 năm nay.
“Bản thân nhà cung ứng nội địa không mua được hàng theo hợp đồng đã ký, hoặc họ cũng bị hủy hợp đồng. Do đó, các nhà cung ứng nội địa không giao cà phê đúng theo hợp đồng, dẫn đến rất nhiều khó khăn với nhà xuất khẩu”, ông Nam nói, và cho biết: “Thời điểm từ cuối tháng 5 đến tháng 10 vừa qua, các doanh nghiệp như bị bị vỡ trận… Lâu lắm rồi, kinh doanh cà phê chưa gặp phải tình trạng như thế này”.
Theo ông Nam, từ 30 năm trở lại đây, chưa bao giờ ngành cà phê Việt Nam thiếu hàng như năm nay, bởi lẽ thông thường các doanh nghiệp chỉ bán 50%, lượng tồn kho còn lại 50%. Nhưng năm nay, kho trữ hàng hết sạch, dẫn đến niên vụ 2022-2023, ngành cà phê Việt Nam phải nhập khẩu hơn 100.000 tấn cà phê từ Brazil và Indonesia về chế biến.
Bên cạnh giá tăng cao/mỗi phiên giao dịch ở sàn London (Anh); lãi suất trong nước vay cao, trong khi tỉ giả VND thấp so với đồng USD nên doanh nghiệp xuất khẩu cà phê gặp khó khăn, không ít doanh nghiệp thua lỗ. “Niên vụ cà phê năm nay người trồng rất vui, nhưng lại là một năm không vui với nhiều nhà kinh doanh xuất khẩu cà phê”, vị Phó Chủ tịch Vicofa, nhận định.
Trên thực tế các doanh nghiệp cà phê, nhất là các đơn vị đang giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán kinh doanh quí 3 ghi nhận lợi nhuận sau thuế giảm, thậm chí thua lỗ so với với cùng kỳ năm ngoái.
Đơn cử Cà phê Thắng Lợi (Mã: CFV) thua lỗ 1,8 tỉ đồng quí 3, đúng với thời điểm khan hiếm cà phê ở thi trường trong nước. Theo giải trình của công ty, do tình hình kinh doanh gặp khó khăn, giá cà phê trong nước tăng đột biến, việc thu mua cà phê khó khăn dẫn đến khối lượng hàng bán giảm. Lũy kế 9 tháng đầu năm, Công ty lãi ròng 724 triệu đồng, giảm 61%.
Còn Công ty Cà phê Phước An (CPA) lỗ hơn 1,4 tỉ đồng trong quí 3, đánh dấu 9 quí liên tiếp lỗ ròng, kể từ quí 3-2021. Sau 9 tháng, Công ty lỗ gần 9 tỉ đồng.
Hay Cà phê Gia Lai (FGL) lỗ quí 3 hơn 3 tỉ đồng. Như vậy, sau 9 tháng đầu năm 2023, FGL lỗ 9,5 tỉ đồng. FGL cho biết, trong 9 tháng đầu năm, Công ty vẫn chưa thu được doanh thu bán cà phê nhân xô, do thời gian thu hoạch cà phê nhân xô của FGL từ tháng 10 đến tháng 12. Trong khi, toàn bộ chi phí quản lý doanh nghiệp gần 3,8 tỉ đồng và chi phí tài chính (lãi vay các hợp đồng vay vốn cá nhân và doanh nghiệp) 5,7 tỉ đồng kết chuyển vào lỗ. Mặt khác, Công ty cũng không có doanh thu bán chuối do dự án kém hiệu quả và đã thanh lý từ cuối năm 2022.
Minh Khanh Capital Trading Public (CTP) có quí lỗ đầu tiên trong năm nay với 134 triệu đồng, cùng kỳ lãi 129 triệu đồng. Nhờ 2 quí trước có lãi (quí 1 lãi 232 triệu đồng, quí 2 lãi 87 triệu đồng) mà sau 9 tháng, Công ty lãi gần 185 triệu đồng, giảm 44%.
Tuy nhiên, vẫn có một số doanh nghiệp dự báo được thị trường và có sự chuẩn bị trước nên cũng mang lại hiệu quả và lợi nhuận cao.
Giá cà phê sẽ tiếp tục ở mức cao
Lãnh đạo Vicofa dự báo, niên vụ cà phê 2023-2024 sẽ thu hoạch muộn hơn niên vụ trước, cùng nguồn cung vụ mới sẽ giảm khoảng 10%, trong bối cảnh nắng nóng kỷ lục khiến sản lượng cà phê Brazil sụt giảm nhiều chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu thế giới. Đây là những yếu tố giúp xuất khẩu cà phê sẽ được lợi về giá.
Ngoài ra, ngành cà phê cũng kỳ vọng sẽ biến thách thức thành cơ hội bằng việc đáp ứng các quy định mới của thị trường EU như quy định về chống phá rừng và suy thoái rừng của EU (EUDR); luật Thẩm định chuỗi cung ứng; quy định giảm phát thải khí nhà kính; cơ chế điều chỉnh biên giới các bon (CBAM) và chứng chỉ các bon…
Với dự báo này, Vicofa cho rằng giá cà phê sẽ tiếp tục ở mức cao do nhu cầu thị trường vẫn lớn, đặc biệt là EU giai đoạn từ nay đến tháng 4 năm sau. Cùng với đó, tại Trung Quốc, giới trẻ cũng ngày càng ưa thích cà phê hơn trà.
Theo ông Đỗ Hà Nam, niên vụ 2023-2024, sản lượng cà phê của Việt Nam dự kiến giảm nhẹ, khoảng 1,6-1,7 triệu tấn. Năng suất cà phê tăng ở Lâm Đồng nhưng giảm ở nhiều tỉnh khác như Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông.
Diện tích vùng trồng cà phê đang tiếp tục có xu hướng giảm, đặc biệt ở Đắk Lắk, Đắc Nông. Thu hoạch muộn hơn mọi năm do mưa tại các vùng trồng chính.
Về xuất khẩu, ông Đỗ Hà Nam, phân tích sản lượng xuất khẩu cà phê dự kiến giảm, đặc biệt sau tết Nguyên Đán vào tháng 2-2024. Cà phê vụ mới đang chào bán mức 60.000 đồng/kg, giao hàng tháng 12-2023 và tháng 1-2024. Mức giá này cao hơn nhiều so với vụ trước do nhu cầu mua lớn của các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp FDI.
Dự kiến mức giá chào bán này sẽ còn tiếp tục tăng đến tháng 4-2024 do người dân sẽ hạn chế bán ra. Giá nội địa sẽ tiếp tục đứng ở quanh mức 60.000 đồng/kg, có thể còn tăng sau Tết nhưng sẽ khó tăng cao.
Ông Nam dự báo, khả năng sẽ không xảy ra tình trạng trễ hạn giao hàng trong vụ mới do các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam và FDI đều rút kinh nghiệm từ vụ trước.
Niên vụ 2022-2023 (từ tháng 10-2022 đến tháng 9-2023), giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam tăng 3,4% lên mức kỷ lục 4,08 tỉ đô la Mỹ nhờ giá tăng cao. Các nhà kinh doanh cà phê kỳ vọng niên vụ 2023-2024, iá trị xuất khẩu sẽ lên 4,5 tỉ đô la.
Th1215

Ngồi ghế, đi giày, mặc comple làm cỏ ruộng rau
Nguồn tin: báo nông nghiệp
Bí quyết của HTX Nông nghiệp Tiền Lệ là sạch, từ lâu người dân ở vùng trồng rau này không sử dụng thuốc trừ cỏ, lượng phân bón và thuốc hóa học giảm đáng kể.
Ông Nguyễn Văn Hào, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Tiền Lệ cho biết, HTX có 500 hộ sản xuất rau trên tổng diện tích trên 40ha. Ảnh: Hồng Thắm.
Dẫn chúng tôi thăm vùng trồng rau sạch lớn nhất Hà Nội, ông Nguyễn Văn Hào, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Tiền Lệ, huyện Hoài Đức cho biết, HTX có 500 hộ sản xuất rau trên tổng diện tích trên 40ha, trong đó 33ha đạt tiêu chuẩn VietGAP.
Ông Hào cho hay, thời gian qua, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc rau an toàn cho bà con trong HTX. Đồng thời, các cơ quan chức năng huyện và thành phố cũng thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra, giám sát quy trình sản xuất rau của xã viên HTX tại thực địa.
“Trước đây, khi chưa có sự hỗ trợ, bà con nông dân có thói quen sử dụng phân chuồng chưa qua ủ, nhưng từ sau khi tập huấn đã tuân thủ đúng quy trình, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cho phép và thực hiện đúng thời gian cách ly. Đồng thời, cũng chuyển sang dùng các loại phân bón hữu cơ. Chính người sản xuất đã ý thức được việc phải đảm bảo sức khỏe cho bản thân”, ông Hào nói.
100% diện tích rau canh tác tại khu nhà lưới 2,5ha của HTX Tiền Lệ đều có sổ nhật ký, ghi lại từ ngày gieo hạt cho đến ngày thu hoạch. Ảnh: Hồng Thắm.
Ông Nguyễn Khắc Đạo, chủ hộ sản xuất trên vùng rau 2,5ha cho hay, 100% nông dân sản xuất trong HTX đã được đào tạo, tập huấn, được cấp chứng chỉ và có kiến thức hiểu biết về an toàn thực phẩm. Riêng khu canh tác rau 2,5ha thực sự là một mô hình điển hình đáng nhân rộng. 100% diện tích canh tác đều có sổ nhật ký, ghi lại từ ngày gieo hạt cho đến ngày thu hoạch. Trong quá trình này phải ghi rõ lượng hạt, lượng phân bón, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng.
Cũng theo ông Đạo, trước đây, bà con chủ yếu dùng phân hóa học, hơn 20 kg/sào nhưng hiện đã chuyển sang bón phân vi sinh, không quá 7 kg/sào, giảm hơn 70% lượng phân bón hóa học so với trước. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng tương tự. Trước chủ yếu dùng thuốc hóa học, nhưng nay đã chuyển sang dùng thuốc sinh học. Thuốc sinh học có nhiều ưu điểm như thời gian cách ly ngắn, độ độc thấp, đảm bảo an toàn thực phẩm, tuy nhiên, giá thành còn hơi cao.
“Giá rau ở vùng sản xuất này luôn đắt nhất thành phố Hà Nội. Bà con lại không phải lo đầu ra vì hiện có 5 – 6 đơn vị liên kết thu mua. Đến HTX Tiền Lệ, bà con ngồi ghế, đi giày, mặc comple… làm rau bởi không gian canh tác sạch, đảm bảo sức khỏe, làm ra những luống rau an toàn cho mọi người. Đã từ lâu rồi người dân ở vùng sản xuất rau này không sử dụng thuốc trừ cỏ, toàn bộ việc làm cỏ tại các ruộng rau đều được nhổ thủ công bằng tay”, ông Đạo tự hào khoe.
Bà An Hà Liên, Giám đốc Cty TNHH Sản xuất – Dịch vụ Liên Anh, một trong những doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ rau của HTX Tiền Lệ cho hay, bà rất yên tâm, tin tưởng về chất lượng và dư lượng đối với những sản phẩm rau an toàn do HTX Tiền Lệ cung cấp.
Xã viên HTX Tiền Lệ ngồi ghế thu hoạch rau. Ảnh: Hồng Thắm.
Theo bà Đặng Thị Thu Thủy, Trạm trưởng Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Hoài Đức, hiện HTX Tiền Lệ chủ yếu dùng các loại phân hữu cơ đã ủ hoai mục, sử dụng nguồn nước mặt, nước ngầm đã được kiểm định, tuyệt đối không sử dụng các nguồn nước ô nhiễm. Đồng thời, lượng phân bón và thuốc hóa học sử dụng giảm đi đáng kể.
Trạm thường xuyên cử cán bộ kiểm tra, giám sát định kỳ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của bà con nông dân, làm việc với chính quyền địa phương, lập biên bản vi phạm hành chính khi xảy ra trường hợp vi phạm. Bên cạnh đó, Trạm cũng đề nghị chính quyền địa phương tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của địa phương về kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả, thuốc nằm trong danh mục.
“Tổng sản lượng rau cung cấp ra thị trường của HTX Tiền Lệ đạt trên 3.000 tấn/năm, doanh thu bình quân 600 – 700 triệu/ha/năm, riêng với khu nhà lưới đạt gần 1 tỷ đồng ha/năm. Hiện HTX có 4 sản phẩm đạt OCOP 4 sao là rau dền, mùng tơi, cải ngồng, cải mơ”, ông Nguyễn Văn Hào, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Tiền Lệ cho biết.
Th1128

Vùng bưởi 30ha khẳng định thương hiệu nhờ sản xuất VietGAP
Nguồn tin: báo nông nghiệp
YÊN BÁI Xã Quy Mông (Trấn Yên, Yên Bái) hiện có hơn 90ha cây có múi, trong đó có hơn 30ha bưởi. Cây bưởi ở đây đã dần khẳng định tên tuổi nhờ sản xuất theo VietGAP.

Sản xuất chuyên nghiệp hơn nhờ quy trình VietGAP
Gia đình anh Trần Mạnh Hiến ở thôn Tân Thành là một trong những hộ trồng bưởi lâu năm tại xã Quy Mông. Mỗi năm anh có nguồn thu gần 100 triệu đồng từ 200 gốc bưởi trong vườn nhà. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, anh Hiến trồng xen kẽ nhiều giống bưởi khác nhau như bưởi da xanh, Cát Quế, bưởi Diễn…
Trước đây, anh Hiến cũng giống như nhiều hộ dân khác trong vùng canh tác bưởi chủ yếu sử dụng phân bón hóa học và dùng thuốc BVTV theo kinh nghiệm, thói quen, thiếu khoa học. Trong 3 năm trở lại đây, quá trình trồng, chăm sóc cây bưởi của gia đình anh đã thay đổi hoàn toàn khi được tham gia tập huấn kỹ thuật canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP.
Theo anh Hiến, trồng cây ăn quả mà không sử dụng thuốc BVTV gần như là điều không thể. Canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP là hạn chế tối thiểu việc sử dụng thuốc BVTV, chủ yếu sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh, chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thực sự cần thiết, sinh vật gây hại vượt ngưỡng và phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sử dụng, thời gian cách ly…. Quá trình sử dụng thuốc BVTV phải ghi chép, theo dõi nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.
Sản phẩm bưởi của anh Trần Mạnh Hiến (thôn Tân Thành, xã Quy Mông) trồng theo tiêu chuẩn VietGAP được khách hàng ưa chuộng. Ảnh: Thanh Tiến.
Anh Hiến cho biết canh tác theo phương tiêu chuẩn VietGAP mặc dù có chút khó khăn và vất vả nhưng hiệu quả thu được lại lớn hơn rất nhiều, sản phẩm quả thơm, ngon, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, khách hàng tin tưởng nên bán được giá cao hơn.
Không chỉ gia đình anh Hiến, hiện nay nhiều hộ dân khác trên địa bàn xã Quy Mông đã xây dựng được mô hình trồng bưởi theo tiêu chuẩn VietGAP đạt chất lượng. Người dân đã tích cực tìm hiểu và học hỏi kỹ thuật trong từng khâu từ làm đất, trồng, bón phân, tỉa cành, tưới nước…, đặc biệt là phòng trừ sâu bệnh hại trong từng giai đoạn phát triển của cây.
Mô hình trồng bưởi của gia đình anh Trần Xuân Thịnh ở thôn Tân Thành (xã Quy Mông) thay vì sử dụng phân bón hóa học, chất kích thích, thuốc BVTV hóa học như trước đây hiện đã chuyển sang sử dụng các loại phân chuồng được ủ hoai mục và các loại chế phẩm vi sinh để phòng trừ sinh vật gây hại. Trong quá trình chăm sóc, làm cỏ, anh chỉ sử dụng máy phát cỏ định kỳ để khống chế, kiểm soát cỏ dại chứ tuyệt đối không sử dụng thuốc diệt cỏ.
Nhờ áp dụng nghiêm ngặt quy trình canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, vườn bưởi của gia đình anh Thịnh luôn xanh tốt, phát triển khỏe mạnh, sạch sâu bệnh hơn so với trước đây; nền đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng.

Nhờ chuyển sang canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, quả bưởi có mẫu mã đẹp, chất lượng thơm ngon, đậm đà hơn. Ảnh: Thanh Tiến.
Anh Thịnh chia sẻ. “Đa phần diện tích cây ăn quả được trồng trong vườn gần nhà, nên việc áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hạn chế thuốc BVTV nên môi trường sống được đảm bảo. Phải dành nhiều thời gian hơn cho vườn bưởi, theo dõi từng dấu hiệu của sâu bệnh để phòng trừ sớm. Chủ động cắt tỉa cành, mầm chồi để cây bưởi phát triển tốt, bón phân hữu cơ đúng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây để cho chất lượng quả có vị thơm ngon, đậm đà hơn”.
Khẳng định thương hiệu bưởi Quy Mông
Để nâng cao giá trị cây ăn quả có múi và hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất, từ năm 2021, chính quyền xã đã khuyến khích các hộ dân thành lập HTX Cây ăn quả Quy Mông. HTX có 30 thành viên và trên 70 hộ liên kết sản xuất. Các thành viên HTX liên kết với nhau cùng phát triển sản phẩm bưởi theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu trồng, chăm sóc tới tiêu thụ sản phẩm.
Ông Đỗ Xuân Sang – Giám đốc HTX Cây ăn quả Quy Mông là một trong những người khởi xướng phong trào sản xuất bưởi VietGAP. Ảnh: Thanh Tiến.
Ông Đỗ Xuân Sang – Giám đốc HTX cho biết: Để trồng bưởi theo tiêu chuẩn VietGAP, các thành viên trong HTX đều được tập huấn và áp dụng quy trình chăm sóc nghiêm ngặt; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời, liên kết để mở rộng dần diện tích, tìm thị trường tiêu thụ ổn định để nâng cao đời sống cho người trồng cây ăn quả.
Hiện nay, xã Quy Mông có hơn 70 hộ trồng bưởi đạt tiêu chuẩn VietGAP với các giống bưởi như: Bưởi Diễn, da xanh, Cát Quế, bưởi đỏ… Sản phẩm bưởi của Quy Mông đã có tem truy xuất nguồn gốc, có bao bì, nhãn mác đáp ứng thị hiếu của khách hàng. Sản phẩm bưởi Quy Mông đã được công nhận là sản phẩm OCOP, không chỉ được bán tại địa phương mà còn được tiêu thụ qua mạng xã hội facebook, kênh bán hàng thương mại điện tử shopee và webside của HTX… Nhờ đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng.
Tập trung sản xuất theo hướng hữu cơ và tiêu chuẩn VietGAP là định hướng phát triển cây ăn quả của xã Quy Mông. Ảnh: Thanh Tiến.
Ông Phùng Tiến Hiển – Phó Chủ tịch UBND xã Quy Mông cho biết, đến nay, Quy Mông đã có gần 90ha cây ăn quả có múi các loại, trong đó có trên 30ha trồng bưởi tập trung theo tiêu chuẩn VietGAP. Chính quyền xã đã tạo điều kiện giúp các hộ dân tham gia các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, xã cũng tập trung tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi đất lúa, đất vườn, đất đồi canh tác kém hiệu quả sang trồng các loại cây có thế mạnh của địa phương; phát triển từng vùng sản xuất tập trung, nhất là các loại cây ăn quả để nâng cao thu nhập.
Với mục tiêu trọng tâm là phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, liên kết theo chuỗi giá trị, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, xã Quy Mông đã đề ra mục tiêu đến năm 2024 sẽ nâng hạng sản phẩm OCOP bưởi Quy Mông từ 3 sao lên 4 sao, từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm bưởi, giúp nông dân làm giàu.
Th1128

Hòa Bình: Huyện Cao Phong hối hả vào vụ thu hoạch cam
Nguồn tin: Báo Hòa Bình
Từ cuối tháng 10, các hộ gia đình, nhà vườn cũng như các hợp tác xã (HTX) trên địa bàn huyện Cao Phong (Hòa Bình) hối hả vào vụ thu hoạch cam niên vụ 2023 – 2024, trong đó chủ yếu là cam lòng vàng. Với vị ngọt đậm đà, vỏ ngoài có hương dầu đặc trưng, cam Cao Phong vẫn được nhiều người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn.
Nông dân thị trấn Cao Phong, huyện Cao Phong thu hoạch cam CS1.
Hiện, toàn huyện Cao Phong có trên 1.740 ha cây ăn quả có múi, trong đó diện tích trồng cam trên 1.350 ha; diện tích thời kỳ kinh doanh gần 1.330 ha; diện tích cam trồng theo tiêu chuẩn VietGAP 536 ha. Qua khảo sát tại chợ dân sinh và các nhà vườn, HTX, tùy từng loại cam, kích cỡ quả mà giá bán lẻ giao động từ 15.000 – 25.000 đồng/kg. Nhanh tay lựa chọn những quả cam vỏ rám, màu vàng đậm, chị Nguyễn Thị Hồng Thương, phường Thái Bình (TP Hòa Bình) cho biết: Từ nhiều năm nay, gia đình tôi rất thích mua cam Cao Phong nên tôi biết cách chọn những quả cam ngon, ngọt. Với thời tiết hanh khô đầu đông, ăn cam để tăng sức đề kháng và bổ sung vitamin là rất cần thiết, nhất là với trẻ nhỏ. Tôi tin tưởng lựa chọn cam tươi của các nhà vườn, hộ sản xuất trồng theo tiêu chuẩn VietGAP để cho gia đình sử dụng.
Là một trong những HTX nỗ lực xây dựng thương hiệu cam Cao Phong hữu cơ, nhiều năm nay, chăm sóc cam theo quy trình VietGAP đã được các hộ thành viên của HTX 3T nông sản Cao Phong (thị trấn Cao Phong) áp dụng. Bởi vậy, trên vỏ cam không thể tránh khỏi một số vết nhỏ do ruồi châm, nhện… Để đảm bảo chất lượng quả cam tươi khi đến tay người tiêu dùng, HTX bắt đầu thu hoạch cam từ 2 tuần trước. Chị Vũ Thị Lệ Thủy, Giám đốc HTX 3T nông sản Cao Phong cho biết: Những năm gần đây, với nhu cầu muốn được tiêu dùng sản phẩm an toàn của nhiều khách hàng, HTX không chỉ tiêu thụ qua kênh bán hàng truyền thống. Mỗi ngày, các hộ thành viên đều vào vườn cắt cam để đảm bảo quả luôn tươi, mới, đáp ứng các đơn hàng của khách tại các tỉnh, thành đặt hàng qua zalo, facebook, thậm chí là cả sàn thương mại điện tử. Bởi quy trình sản xuất nghiêm ngặt hoàn toàn hữu cơ, tuyệt đối không sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học, sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng được sục rửa ozone và chọn lọc kỹ nên giá bán lẻ cam của HTX sẽ cao hơn so với mặt bằng chung của thị trường khoảng 30%. Thời điểm này, HTX đã thu hoạch trên 10% diện tích.
Là hộ thành viên của Hội Người trồng cam thị trấn Cao Phong, từ khi bước vào niên vụ mới, ngày nào bà Bùi Thị Lan cũng tất bật trong vườn để cắt cam trả đơn cho khách hàng. Theo bà Lan chia sẻ, cam vừa là cây trồng để phát triển kinh tế, vừa là loại đặc sản địa phương mà tự tay bà trồng được để chia sẻ cho các thành viên trong gia đình thưởng thức. Vì thế chất lượng của cam và sự an toàn cho sức khỏe luôn là tiêu chí được đặt lên hàng đầu. Cùng sự đồng hành, hướng dẫn của Hội Người trồng cam thị trấn Cao Phong, diện tích cam gần 2 ha của gia đình bà đã áp dụng quy trình chăm sóc theo tiêu chuẩn VietGAP nhiều năm nay. Niên vụ này, giá cam bán tại vườn của gia đình dao động từ 20.000 – 25.000 đồng/kg. Vườn cam của gia đình bà nằm dọc bên đường, vì thế, ngoài các khách hàng quen và khách địa phương, cam của gia đình còn được bán cho nhiều khách du lịch từ các tỉnh, thành phố khi đến huyện tham quan, trải nghiệm.
Với hương vị đặc trưng, khó có thể nhầm lẫn với các loại cam khác, thời gian qua, cam Cao Phong đã khẳng định được vị trí trên thị trường. Cùng với việc chỉ đạo, khuyến khích nông dân, các hộ sản xuất, HTX chăm sóc tốt diện tích cam thời kỳ kinh doanh, huyện Cao Phong đang tập trung thực hiện tái canh cây cam theo Đề án tái canh cây ăn quả có múi của tỉnh. Đồng chí Bùi Văn Dán, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết: Dự kiến sản lượng cam niên vụ 2023 – 2024 đạt khoảng 18.000 – 20.000 tấn. Giá trung bình của loại cam chín sớm như cam lòng vàng hiện nay dao động từ 18.000 – 20.000 đồng/kg; một số giống cam khác giá tương đối ổn định. Từ sau khi cam Cao Phong được cấp chứng nhận Chỉ dẫn địa lý, cùng với chú trọng nâng cao chất lượng, đa dạng chủng loại sản phẩm từ cam, huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức giữ gìn thương hiệu cam Cao Phong; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến thương hiệu nông sản đặc trưng của địa phương cũng như của tỉnh. Bên cạnh đó, đối với thực hiện Đề án tái canh cây có múi của tỉnh cũng như tái canh cây cam trên địa bàn huyện, trước mắt huyện xây dựng cánh đồng mẫu trồng cam. Định hướng sau này cánh đồng mẫu sẽ trở thành địa điểm để nông dân, du khách các nơi đến học hỏi kinh nghiệm, tham quan, trải nghiệm.
Thu Hằng
Th1121

Ngành nông nghiệp hướng đến xuất khẩu rau đạt 1-1,5 tỉ đô la Mỹ
Nguồn tin: Kinh tế Sài Gòn online
(KTSG Online) – Trong đề án về phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, đảm bảo truy suất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 vừa được phê duyệt, Việt Nam hướng đến giá trị kim ngạch xuất khẩu rau đạt 1-1,5 tỉ đô la Mỹ. Ngoài ra, tổng diện tích rau ước tính sẽ đạt 1,2-1,3 triệu héc-ta, sản lượng từ 23-24 triệu tấn.
Những hộ gia đình sản xuất rau cần liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp tác xã và tổ hợp tác để sản xuất rau tại các vùng tập trung, gắn với tiêu thụ sản phẩm. Ảnh: TL
Theo TTXVN, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa phê duyệt đề án về phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, đảm bảo truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030.
Cụ thể, tổng diện tích rau của cả nước tính đến năm 2030 sẽ đạt 1,2-1,3 triệu héc-ta. Sản lượng rau trên cả nước đạt từ 23-24 triệu tấn, trong đó, sản lượng rau phục vụ cho chế biến từ 1-1,3 triệu tấn. Giá trị kim ngạch xuất khẩu rau đến năm 2030 đạt khoảng 1-1,5 tỉ đô la Mỹ.
Mục đích của đề án là phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng địa phương, phục vụ nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong và ngoài nước, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cho phát triển sản xuất, chế biến rau.
Trên cơ sở này, các địa phương sẽ xác định quy mô vùng sản xuất rau tập trung trong phương án quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch khác có liên quan; thực hiện chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; phối hợp với các doanh nghiệp định hướng quy mô vùng trồng rau, ưu tiên các vùng tập trung; hình thành các chuỗi liên kết sản xuất rau từ giai đoạn xây dựng vùng trồng đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Trúc Đào
Th1121

Đừng để nông sản xuất khẩu vào châu Âu cũng bị dính thẻ vàng
Nguồn tin: Kinh tế Sài Gòn online
(KTSG) – Cơ hội để Việt Nam gia tăng xuất khẩu hàng nông sản vào EU đã rộng mở sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực vào ngày 1-8-2020, nhưng nguy cơ đánh mất thị trường này cũng lớn hơn nếu Việt Nam không đáp ứng được các tiêu chí về phát triển nông nghiệp bền vững.
Thị phần còn rất khiêm tốn
Với 27 nước thành viên và dân số khoảng 516 triệu người, EU là một thị trường tiêu thụ hàng nông sản lớn, không chỉ cho nhu cầu tiêu thụ ở các quốc gia thành viên, mà còn cho nhu cầu nguyên liệu đầu vào để chế biến rồi xuất khẩu ra toàn thế giới. Theo cơ quan thống kê của EU (Eurostat), có đến 70 nước đang phát triển đang xuất khẩu nông sản vào EU, trong đó Việt Nam xếp thứ 12 với 2,2% thị phần hàng nông sản của khối này.
Mặc dù EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của ngành hàng nông sản Việt Nam, nhưng con số trên cho thấy giá trị hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang EU vẫn ở mức thấp so với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam, cũng như nhu cầu nhập khẩu của EU.
Nguyên nhân của hạn chế đó xuất phát từ khả năng đáp ứng của Việt Nam trước các yêu cầu của EU về kiểm dịch động thực vật, các quy tắc về truy xuất nguồn gốc, các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và quy trình đóng gói, vận chuyển… Chẳng hạn, theo Hướng dẫn 79/117/EEC của Ủy ban châu Âu (EC), dư lượng thuốc bảo vệ thực vật được phép tồn dư trên sản phẩm nhập khẩu vào EU rất thấp, gần như bằng 0. Nếu EU phát hiện có bất cứ một chất cấm nào tồn dư trong mẫu sản phẩm nhập khẩu, lô hàng đó sẽ bị từ chối và tiêu hủy, nhà cung cấp (xuất khẩu) sẽ phải chịu toàn bộ chi phí tiêu hủy, thậm chí có thể bị truy tố và bị áp lệnh cấm xuất khẩu sản phẩm đó vào EU trong thời gian chờ đợi cơ quan có thẩm quyền của EU tiến hành điều tra và xử lý(1).
Nông sản Việt Nam trong những năm qua đã gặp rất nhiều lượt từ chối từ phía EU. Lý do từ chối chiếm tỷ lệ cao nhất là nhiễm khuẩn (21%); dư lượng thuốc thú y và kim loại nặng (16%); dư lượng thuốc trừ sâu (11%); phụ gia (7%); ngoài ra còn có các lý do khác như: điều kiện vệ sinh, chất gây ô nhiễm, độc tố nấm mốc, bao bì đóng gói(2)…
Và những yêu cầu xanh
Nhưng thách thức không chỉ có thế. Ngày 16-5-2023, EC đã thông qua Quy định không gây mất rừng (EUDR). Theo đó, cấm nhập khẩu những mặt hàng nông sản có quy trình sản xuất trên đất có nguồn gốc từ phá rừng và gây suy thoái rừng, bao gồm cả các mặt hàng được nuôi hoặc sản xuất bằng các sản phẩm đó như da, chocolate, giấy in, đồ nội thất, than củi và một số dẫn xuất dầu cọ(3).
Ngoài ra, EU còn yêu cầu nhà xuất khẩu phải tuân thủ các đạo luật về Thỏa thuận xanh châu Âu, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Quy định này buộc các nhà nhập khẩu vào EU phải báo cáo lượng phát thải carbon trong hàng hóa. Theo số liệu thống kê của European Commission, tổng lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp cao thứ hai, chiếm khoảng 19% tổng lượng phát thải quốc gia (năm 2020), trong đó khoảng 48% lượng khí thải của ngành nông nghiệp và hơn 75% lượng khí mê-tan phát ra từ sản xuất lúa gạo.
Bên cạnh đó, Luật Thẩm định chuỗi cung ứng bắt buộc các công ty quản lý chặt chẽ các tác động về môi trường trong cả sản xuất, kinh doanh. Đây là những thách thức lớn để được hưởng ưu đãi từ EVFTA ngoài các điều kiện cơ bản như quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn chất lượng.
Để nông sản không bị dính “thẻ vàng”
Có thể thấy, phát triển nông nghiệp bền vững giờ đây không còn là chuyện khuyến khích, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc của nhiều thị trường xuất khẩu. Vì vậy, nếu Việt Nam muốn tận dụng được cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do để tăng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản vào các thị trường có yêu cầu cao như EU thì không thể không quan tâm đến các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững, gồm: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế thúc đẩy phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững nông nghiệp; thực hiện quản lý năng lượng, giảm khí nhà kính, quản lý các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm bằng cách áp dụng mô hình sản xuất theo các tiêu chuẩn xanh đã được chuẩn hóa; thúc đẩy hình thành các chuỗi liên kết giá trị, chuỗi giá trị sản phẩm bền vững, từ sản xuất đến thu mua – chế biến – bảo quản – tiêu thụ theo các tiêu chuẩn do thị trường đề ra.
Bên cạnh đó, ngành hải quan với tư cách là người gác cửa cũng có vai trò rất quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, ngành hải quan cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động nghiệp vụ một cách toàn diện, đồng bộ với chuyển đổi số các doanh nghiệp và các bộ, ngành trong triển khai cơ chế một cửa quốc gia đặc biệt là chứng nhận kiểm dịch đối với thương mại nông sản, đơn giản hóa thủ tục hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.
Đồng thời, cần chú trọng tăng cường hợp tác hải quan với các nước tham gia EVFTA nhằm xử lý các vấn đề chung, tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản Việt Nam xuất khẩu sang EU. Tranh thủ các nguồn lực quốc tế để hoàn thiện quy trình hải quan hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa.
EVFTA với phạm vi và mức độ cam kết rộng là cơ hội lớn đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong lĩnh vực nông sản nói riêng và xuất khẩu nói chung. Là một thị trường khó tính với những quy định rất khắt khe về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, để khai thác được lợi thế xuất khẩu thì chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của nước ta là định hướng cơ bản, trụ cột để đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời tạo dựng uy tín cho hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
(1) https://trungtamwto.vn/chuyen-de/16007-xuat-khau-nong-san-vao-eu-thach-thuc-ve-an-toan-va-kiem-dich
(2) Standard compliance analytics
(3) Công văn 5179/BNN-HTQT ngày 01/8/2023 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Ngô Thị Mỹ Dung
Th1118

Ô Môn hỗ trợ nhà vườn xây dựng mã số vùng trồng
Nguồn tin : báo Cần Thơ
(CT) – Ðể phát triển các vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao, quận Ô Môn đã và đang đẩy mạnh công tác vận động người dân cải tạo vườn kém hiệu quả, trồng mới các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao; đồng thời hỗ trợ nhà vườn, áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để gia tăng chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế.
Cán bộ Phòng Kinh tế quận Ô Môn thăm hỏi hoạt động sản xuất của nhà vườn ở phường Thới An.
Hiện toàn quận Ô Môn có 3.718ha, trong đó có 3.227ha vườn mang lại hiệu quả và có gần 500ha đang được cải tạo, chủ yếu tập trung nhiều tại các phường Thới An, Thới Long và Trường Lạc. Trong 10 tháng năm 2023, UBND quận Ô Môn đã chỉ đạo các phòng chức năng và UBND các phường tích cực vận động người dân thực hiện cải tạo được 85ha vườn kém hiệu quả. Cùng với đó, hỗ trợ nhà nông tham gia nhiều lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cũng như định hướng lựa chọn các loại cây trồng phù hợp với tiềm năng và lợi thế của địa phương… qua đó, giúp cho nhiều nhà vườn gia tăng hiệu quả kinh tế.
Trong 10 tháng năm 2023, quận Ô Môn đã được cấp 4 mã số vùng trồng nhãn Ido tại khu vực Thới Trinh, phường Thới An và 1 mã số vùng trồng sầu riêng tại Tổ hợp tác trồng sầu riêng Tân Xuân, phường Trường Lạc. Lũy kế đến nay, Ô Môn đã có 9 mã số vùng trồng, tập trung ở phường Châu Văn Liêm, phường Trường Lạc và phường
Thới An…
Từ nay đến cuối năm 2023, quận Ô Môn tiếp tục hướng dẫn người dân chăm sóc tốt vườn cây ăn trái, tăng cường ứng dụng kỹ thuật, tiêu chuẩn vào sản xuất,… đảm bảo trái cây đạt chất lượng cung cấp cho thị trường, nhất là vào vụ Tết Nguyên đán 2024. Cùng với đó, phối hợp với ngành chức năng thành phố hỗ trợ các khu vực, nhà vườn đủ điều kiện xây dựng mã số vùng trồng, gắn với truy xuất nguồn gốc… Qua đó, từng bước đẩy mạnh chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị và phát triển
bền vững.
Tin, ảnh: MỸ HOA
Th1118

Thu hút doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp bền vững
Nguồn tin : Báo Long An
Được mệnh danh là “bệ đỡ”, ngành Nông nghiệp từng bước khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh những nông dân với cách làm hay, hiệu quả, góp phần đưa sản phẩm nông nghiệp đến với người tiêu dùng, thì có sự đồng hành của doanh nghiệp, doanh nhân. Thế nhưng, hiện nay, việc đầu tư của các doanh nghiệp, doanh nhân vào lĩnh vực nông nghiệp còn nhiều hạn chế.
Bài 2: Doanh nghiệp gặp khó khi đầu tư vào nông nghiệp
Ngành Nông nghiệp (NN) có tiềm năng, lợi thế lớn với những sản phẩm, giá trị đã được khẳng định. Tuy nhiên, vấn đề thu hút đầu tư vào NN còn hạn chế, dư địa đầu tư còn rất lớn, nhiều doanh nghiệp (DN) chưa thật sự sẵn sàng nhập cuộc vào việc phát triển cũng như bứt phá mạnh hơn nữa của nền NN.
Doanh nghiệp góp phần tạo ra chuỗi giá trị nông sản lớn, khẳng định thương hiệu, tên tuổi của ngành Nông nghiệp Việt Nam
Chưa tương xứng với tiềm năng
Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – Phạm Tấn Công cho biết, hiện cả nước có trên 50.000 DN đầu tư vào NN. Con số này còn rất khiêm tốn so với tổng số trên 900.000 DN đang hoạt động ở nước ta. Điều này cho thấy, việc thu hút DN đầu tư vào ngành NN vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế to lớn vốn có và trở thành “bài toán” cần lời giải ở nhiều địa phương, trong đó có Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Long An – Nguyễn Văn Út, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm lớn về sản xuất lúa, gạo, trái cây, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu ngành NN của cả nước. NN vùng này liên tục tăng trưởng nhờ khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, trong đó có tỉnh Long An.
Hiện nay, thu hút đầu tư vào lĩnh vực NN có tiến triển, song vẫn thiếu yếu tố bền vững, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của vùng cũng như địa phương. Việc thu hút đầu tư vẫn theo chiều rộng, nhờ tăng diện tích, tăng vụ và các yếu tố đầu vào truyền thống như lao động, vốn, vật tư, nguồn lực tự nhiên,… mô hình tăng trưởng NN như hiện nay mới chỉ tạo ra được khối lượng nhiều nhưng giá trị chưa cao, hiệu quả sử dụng đất và tài nguyên còn thấp.
Bên cạnh đó, NN luôn là lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro khi luôn đối diện thách thức về biến đổi khí hậu, thiên tai khó lường, hạn và xâm nhập mặn luôn là nguy cơ tiềm ẩn; dịch bệnh, giá cả thị trường biến động; sự thay đổi nhu cầu, phương thức tiêu dùng đòi hỏi sự chuyển đổi phù hợp về tổ chức sản xuất, cơ cấu lại kênh phân phối, kết nối cung – cầu;…
Riêng tại tỉnh Long An, với diện tích đất sản xuất NN khoảng 300.000ha. Trong 9 tháng năm 2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,16% GRDP của tỉnh. Tỉnh hiện là “ngôi nhà chung” của trên 16.500 DN đăng ký hoạt động, trong đó, lĩnh vực NN có trên 1.300 DN đăng ký hoạt động. Việc thu hút đầu tư vào NN tại Long An dù có chuyển biến nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển hiện nay.
Còn nhiều “điểm nghẽn”
Việc thu hút DN đầu tư vào NN vẫn còn những “điểm nghẽn” nhất định trong cơ chế, chính sách. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho việc thu hút DN đầu tư vào NN còn khó khăn, chưa tạo được sự an tâm để DN đồng hành, tham gia.
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty (Cty) Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời – Huỳnh Văn Thòn chia sẻ: Thiếu thông tin minh bạch về chất lượng an toàn của sản phẩm, cụ thể là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến sản phẩm không đạt tiêu chuẩn vào thị trường khó tính. Đây là một vấn đề thực tế, nếu không được giải quyết thì DN Việt Nam sẽ bị thiệt thòi rất lớn, ví dụ như sản phẩm giá bán thấp, danh tiếng không được tốt.
Một rào cản lớn khác chính là chủ nghĩa bảo hộ, cụ thể là chính sách thuế bảo hộ của các quốc gia giàu đối với nông sản của các nước có nền NN còn hạn chế. Nếu các nước lớn không sử dụng quyền thương lượng quá lớn đối với các quốc gia nhỏ thì Việt Nam hoàn toàn có thể xuất khẩu nông sản tốt hơn trước, nhất là xuất khẩu gạo và bỏ được bảo hộ thì Việt Nam sẽ là nước sản xuất gạo phát triển.
Doanh nghiệp “chắp cánh” cho nhiều nông sản vươn cao, bay xa (Trong ảnh: Chuối của Công ty TNHH Huy Long An – Mỹ Bình đã vươn ra thế giới, tạo được chỗ đứng tại nhiều thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc,…)
Doanh nhân Võ Quan Huy (Cty TNHH Huy Long An – Mỹ Bình, huyện Đức Huệ) cho rằng, thời gian qua, ngành NN ghi nhận là “bệ đỡ” của nền kinh tế khi hàng hóa củng cố niềm tin với bạn bè quốc tế và người tiêu dùng trong nước. Nhiều sản phẩm NN Việt Nam nằm trong tốp 10 của thế giới như tiêu, cà phê, cao su, chế biến gỗ gia dụng,…
Tuy nhiên, nhiều DN, ngành hàng, nông dân còn gặp khó khăn trong vấn đề sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Ví dụ như lĩnh vực trồng trọt hiện nay có nhiều mô hình khá thành công nhưng giá cả vật tư đầu vào tăng cao, thậm chí rất cao nhưng đầu ra không ổn định đã đẩy một số DN nhỏ, nông dân vào thế khó, bế tắc, không có người dẫn dắt, định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Theo Tổng Giám đốc Cty TNHH San Hà – Phạm Thị Ngọc Hà, để sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực chăn nuôi, Cty phải vượt qua nhiều khó khăn như khảo sát, tìm kiếm mặt bằng phù hợp, hội đủ điều kiện cho cây trồng, vật nuôi có thể phát triển được. Tiếp theo là thực hiện thương lượng, đền bù hoa màu, công trình trên đất,… để chuyển quyền sử dụng đất.
Tiếp đó là thủ tục đầu tư, xây dựng,… qua nhiều cơ quan và tốn thời gian, công sức. Việc xin phép xây dựng các công trình phục vụ trồng trọt, chăn nuôi công nghệ cao trên đất NN hiện nay khá vất vả. Tuy nhiên, muốn trồng trọt, chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao bắt buộc phải đầu tư xây dựng nhà lưới, nhà kính, chuồng trại hiện đại, kể cả nơi ở cho người chăm sóc.
Thực tế hiện nay là nhà đầu tư cho sản xuất sản phẩm sạch, công sức và chi phí cao hơn bình thường nhưng kết quả là sản phẩm có mẫu mã không bắt mắt dẫn đến khó tiêu thụ. Ngược lại, người tiêu dùng muốn mua sản phẩm sạch, an toàn nhưng không biết mua ở đâu. Bên cạnh đó, nếu đầu tư lĩnh vực NN mà phải tham gia đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thì rất khó thu hút DN tham gia vì đầu tư vào NN nhiều rủi ro, lợi nhuận thấp nhưng chi phí đất cao. Vấn đề về vốn cho NN xanh cũng là một thách thức không nhỏ,…
Theo Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Nông nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) – Đoàn Đạt, 15 năm qua, kể từ khi Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Bộ Chính trị được ban hành, sự phát triển các DN trong NN vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển NN trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Một trong những nguyên nhân là môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thuận lợi, các chính sách hỗ trợ DN trong NN còn thiếu đồng bộ, chưa tạo động lực đủ mạnh để thu hút DN. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57-2018/NĐ-CP (NĐ số 57), ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích DN đầu tư vào NN, nông thôn. Tuy nhiên, quá trình tổ chức triển khai, thực hiện NĐ số 57 giai đoạn vừa qua gặp một số khó khăn, vướng mắc.
Trong đó, giai đoạn 2016-2020, ngân sách nhà nước còn hạn chế, các địa phương chủ yếu tập trung nguồn vốn bố trí cho kết cấu hạ tầng, còn ít nguồn vốn bố trí để thực hiện NĐ số 57. Đây được xem là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến NĐ số 57 triển khai chưa đạt mục tiêu đề ra.
Một số quy định tại NĐ số 57 còn chưa rõ hoặc chưa đồng bộ với các luật hiện hành như quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất trùng lặp với ưu đãi theo quy định tại pháp luật đất đai; trình tự thực hiện quyết định chủ trương đầu tư của dự án còn có những cách hiểu khác nhau giữa quyết định chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư và NĐ số 57;…
Mặt khác, NN, kinh tế nông thôn hiện nay phát sinh một số yếu tố và yêu cầu mới, cần thiết sửa đổi, bổ sung chính sách đáp ứng bối cảnh mới cho phù hợp như các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa được ký kết và bắt đầu có hiệu lực. Việc loại bỏ thuế suất với các mặt hàng nông sản chế biến sẽ khuyến khích công nghiệp thực phẩm đầu tư sản xuất các mặt hàng cho thị trường này, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu nông sản theo hướng gia tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến.
Các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được ký kết vừa tạo sân chơi mới, cơ hội mới, vừa tạo thách thức mới cho nông sản Việt Nam, nhất là nông sản hữu cơ và nông sản sạch,… Do vậy, cần thiết có chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của DN NN, bảo đảm có thể chủ động, đủ khả năng hòa nhập khi các Hiệp định thương mại tự do được thực thi đầy đủ.
Chính sách khuyến khích DN đầu tư vào NN, nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Để tiếp tục thu hút, hỗ trợ mạnh hơn cho DN, ngoài việc tích cực triển khai NĐ của Chính phủ, đòi hỏi các bộ, ngành và địa phương trong tổ chức, triển khai chính sách hỗ trợ DN cần nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của DN, xác định thu hút được một DN NN “khởi nghiệp” chắc chắn sẽ tạo thêm sản phẩm cho NN, tạo thêm động lực cạnh tranh trong phát triển NN hướng tới các sản phẩm nông, lâm, thủy sản có chất lượng cao hơn. Từ đó, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước trong điều hành tổ chức sản xuất NN, đặc biệt là đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho DN tiếp cận được với các hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước./.
Thanh Mỹ
Th1117

Trồng ”rừng” vú sữa Hoàng Kim
Nguồn tin: Báo Lâm Đồng
Vú sữa Hoàng Kim, cây trồng mới tại Lâm Đồng đã cho thấy độ phù hợp về khí hậu, thổ nhưỡng. Một gia đình nông dân tại Thôn 5, xã Lộc An, huyện Bảo Lâm đã có một vườn vú sữa Hoàng Kim trưởng thành, ra hoa, kết trái rất khả quan.
Gia đình chị Trần Minh Nguyệt Như Hoa – anh Nguyễn Minh Đức là một trong những hộ đầu tiên trên địa bàn Bảo Lâm trồng thử vú sữa Hoàng Kim. Năm 2019, sau khi cải tạo mảnh đất trồng cà phê, anh chị xuống giống 350 cây vú sữa Hoàng Kim, thứ trái cây có màu vàng tươi, vị ngọt mát, rất ít hột. Ngay từ khi xuống giống, do đã tìm hiểu về cây vú sữa Hoàng Kim, gia đình đã trồng khá thưa do anh Đức tìm hiểu thông tin cho thấy, cây vú sữa Hoàng Kim khi trưởng thành sẽ rất to. Và, sau 4 năm canh tác, cây vú sữa Hoàng Kim của gia đình anh chị đã rất lớn, với chiều cao lên tới 3- 4 m.
Vừa dùng sào thu hoạch những trái vú sữa vàng tươi, chị Như Hoa vừa nhận xét, ít loại cây trồng nào dễ chăm như cây vú sữa Hoàng Kim. Cây gần như không có sâu bệnh, không phải dùng bất cứ loại thuốc bảo vệ thực vật nào, chỉ cần tưới nước, bỏ phân đều đặn là đủ để cây sinh trưởng và phát triển tốt. Chị chia sẻ: “Nhiều người vào thăm nói vườn vú sữa Hoàng Kim nhà tôi như một mảnh rừng, mà đúng là trồng như trồng rừng thật. Hồi cây nhỏ thì còn phải chăm ít nhiều chứ từ năm 2022 tới nay, cây to, không cần phải chăm sóc gì, rất dễ sống”. Mảnh vườn 350 cây vú sữa Hoàng Kim cao ngợp, những tán lá to bản tạo nên một khung cảnh xanh mát.
Vú sữa Hoàng Kim bị côn trùng chích hút trái, khiến trái bị “tật”, vẹo, không đều và đẹp trái. Để phòng ngừa côn trùng chích trái, gia đình anh chị Như Hoa – Minh Đức tiến hành bọc trái sau khi thành hình. Theo chị Hoa, từ khi cây ra bông tới khi trái chín, có thể thu hoạch được là 3 tháng. Sau khi có bông được tầm 20 ngày, khi trái bằng ngón tay cái, gia đình tiến hành bọc trái bằng túi chuyên dụng. Túi sẽ giúp trái tránh được côn trùng, không bị chích hút cũng như lên màu vàng rạng rỡ. Khi thu hoạch, chỉ cần cắt luôn túi như bọc ngoài chống sốc, giúp việc bảo quản trái tốt hơn, mang đi xa không bị hỏng, dập.
Chị Như Hoa cho biết, vú sữa Hoàng Kim ra trái rải rác quanh năm nhưng vụ chính là vào giáp Tết Âm lịch. Từ năm 2021, anh chị đã được thu lứa bói. Vụ trái năm 2022, 350 cây vú sữa thu được 17 tấn trái, trung bình 50 kg/cây. Với giá bán tại vườn từ 25-35 ngàn đồng tùy size trái, gia đình có một khoản thu vừa phải. Chị Hoa nhận xét: “So với trồng các loại cây ăn trái có giá như sầu riêng, bưởi thì vú sữa Hoàng Kim thu nhập không bằng. Tuy nhiên, vú sữa ra trái rất nhanh, lại ít sâu bệnh, mức đầu tư thấp, người trồng rất khỏe. Vì vậy, gia đình vẫn giữ nguyên vườn vú sữa Hoàng Kim để có khoản thu nhập ổn định. Được thêm một điều là năng suất trái sẽ tăng từng năm, thu nhập sẽ ngày càng tốt hơn”.
Một điều chị Như Hoa nhấn mạnh là khác với nhiều loại trái, khi hái xuống khỏi cây, trái vẫn tiếp tục chín thì trái vú sữa Hoàng Kim khi rời khỏi thân cây gần như giữ nguyên chất lượng như khi còn trên cành. Trái rất khó chín thêm sau khi đã thu hoạch. Vì vậy, khi hái, chị chỉ chọn những trái đã chín thật sự. Chỉ khi hái chín, trái mới đạt độ ngọt, độ mềm cho phép, đến tay người tiêu dùng đạt chất lượng ngon ngọt nhất. Chị luôn khuyến cáo những gia đình trồng vú sữa Hoàng Kim cần thu hoạch khi trái chín hẳn, không hái trái ương vì sẽ không ngon, ảnh hưởng tới giá trị trái.
Bà K’Uỳnh – Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Lộc An cho biết, vườn vú sữa của gia đình anh chị Như Hoa – Minh Đức là một vườn cây ăn trái đặc sắc của xã. Vú sữa Hoàng Kim của gia đình cho trái thơm, ngọt, dễ bán trên thị trường, ít bị cạnh tranh. Trồng loại cây này tuy thu nhập không cao bằng sầu riêng, bưởi nhưng chi phí đầu tư thấp, chăm sóc nhẹ nhàng, ít công, thu nhập vẫn cao hơn trồng cà phê và nhiều loại cây trồng khác. Bởi vậy, Lộc An thường xuyên khuyến cáo nông dân đa dạng hoá cây trồng, tránh phụ thuộc vào một vài loại cây, giảm ảnh hưởng xấu nếu thị trường thay đổi.
Diệp Quỳnh
Th1117

Nâng chất lượng, hạ giá thành để ‘cứu’ ngành cá tra
Nguồn tin: Kinh tế Sài Gòn online
(KTSG Online) – Tuy có mức tăng trưởng xuất khẩu dương trong những tháng gần đây, nhưng cá tra vẫn đối diện với rất nhiều khó khăn. Do đó, để giúp ngành hàng này vượt qua khó khăn, hai vấn đề quan trọng cần giải quyết, đó là kiểm soát chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất để gia tăng sức cạnh tranh…
Nâng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất để tăng sức cạnh tranh cho ngành cá tra. Ảnh: Trung Chánh
Thương lái Trung Quốc thuê nhà máy gia công, mượn “code” xuất khẩu!
Để quản lý chất lượng sản phẩm cá tra xuất khẩu, ngày 21-3-2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư số 07/2017/TT-BNNPTNT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “sản phẩm thuỷ sản- cá tra phi lê đông lạnh” (thông tư có hiệu lực từ ngày 5-5-2017- PV).
Theo đó, thông tư nêu trên quy định, tỷ lệ mạ băng đối với cá tra phi lê xuất khẩu không được lớn hơn 20% khối lượng tổng của sản phẩm và hàm ẩm (hàm lượng nước) không được lớn hơn 86% khối lượng tịnh của sản phẩm. Hai chỉ tiêu này được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định nhằm bảo vệ chất lượng sản phẩm cá tra phi lê xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, có không ít thương lái Trung Quốc vào Việt Nam “núp bóng” phía sau người Việt để thành lập công ty TNHH, sau đó, thuê nhà máy sản xuất gia công và thuê cả HS code để xuất khẩu tiểu ngạch vào quốc gia này. HS code (Harmonized Commodity Description and Coding System) hay còn gọi là mã HS là mã số của hàng hóa xuất, nhập khẩu theo hệ thống phân loại hàng hóa có tên là “hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa” để xuất khẩu.
Trao đổi với KTSG Online, ông Ong Hàng Văn, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần thuỷ sản Trường Giang cho biết, các nhà máy sản xuất thuỷ sản ngưng hoạt động hoặc làm ăn không hiệu quả đã chuyển hướng sang “sản xuất gia công” cho thương lái Trung Quốc. “Họ (thương lái Trung Quốc) vào lập công ty TNHH rồi thuê nhà máy để sản xuất gia công”, ông Văn nói và thông tin, doanh nghiệp sản xuất gia công sẽ được thương lái Trung Quốc trả 7.000-8.000 đồng/kg, trong khi đơn vị cho thuê “code” xuất khẩu được trả 5 triệu đồng/container.
Theo dẫn chứng của ông Văn, có một doanh nghiệp đã bán nhà máy cho Công ty cổ phần thuỷ sản Trường Giang, tức không còn sản xuất nữa, trong khi họ có “code” nên đã cho thuê để xuất khẩu.
Xét về mặt pháp lý, thương lái Trung Quốc có đủ các loại giấy tờ liên quan để xuất khẩu, tuy nhiên, theo ông Văn, việc này đang gây ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Bởi lẽ, thương lái Trung Quốc sản xuất sản phẩm chất lượng thấp để có giá cạnh tranh. “Họ bán tiểu ngạch qua biên giới nên giá nào cũng bán”, ông Văn nói và cho rằng, thương lái Trung Quốc bán rẻ đến mức các doanh nghiệp nhập khẩu chính ngạch của quốc gia này cũng… “chết”!.
Ông Trần Văn Hùng, người sáng lập Công ty TNHH Hùng Cá cho biết, tình trạng nâng tỷ lệ mạ băng và hàm ẩm trong sản phẩm cá tra đang bị một bộ phận lạm dụng để có giá rẻ. “Nhưng, việc này liệu có giúp chúng ta tồn tại hay không?”, ông đặt câu hỏi và lo lắng nói: “Mấy anh hạ giá để bán, rồi thêm phụ gia làm miếng cá “nhão nhẹt” như kem chuối, thì làm sao giữ được uy tín?”
Chính vì vậy, ông Hùng đề nghị, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội cá tra Việt Nam (VINAPA) cùng các đơn vị liên quan phải vào cuộc kiểm tra để bảo vệ chất lượng sản phẩm và uy tín của ngành cá tra Việt Nam.
Ông Phan Hoàng Duy, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản Cần Thơ (Caseamex) đồng quan điểm khi gợi ý, cần nhìn nhận lại về chất lượng sản phẩm. “Sản phẩm phục vụ người tiêu dùng, nhưng chế biến nước ra nhóc hết, thì làm sao họ dám ăn tiếp lần sau?”, ông nói.
Từ vấn đề nêu trên, ông Văn của Trường Giang đề nghị, cơ quan quản lý nhà nước phải kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng sản phẩm. “Đơn vị nào một năm không hoạt động nữa thì nên dẹp, thu hồi code, phải tổng kiểm tra lại hết”, ông đề nghị.
“Kéo” giá thành sản xuất xuống
Bên cạnh củng cố chất lượng sản phẩm, vấn đề quan trọng cần thực hiện để gia tăng sức cạnh tranh cho xuất khẩu cá tra Việt Nam là phải kéo giảm giá thành sản xuất.
Ông Duy của Caseamex, cho biết cá tra Việt Nam đã xuất khẩu đi khoảng 150 thị trường trên thế giới, trong đó, kết quả khả sát sơ bộ của đơn vị này cho thấy, người tiêu dùng mua cá tra Việt Nam do đây sản phẩm cá thịt trắng có giá cạnh tranh.
Tuy nhiên, sức cạnh tranh của sản phẩm cá tra Việt Nam đang ngày càng giảm khi các loại sản phẩm cùng phân khúc có giá sản xuất ngày càng thấp hơn.
Ông Nguyễn Văn Kịch, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần thuỷ sản Cafatex dẫn chứng, trước đây giá thành sản xuất cá tra Việt Nam thấp hơn cá minh thái Alaska, nhưng bây giờ cao hơn. “Trước đây, giá thành sản xuất cá tra chỉ 1 đô la Mỹ/kg, nhưng bây giờ đã là 1,2-1,3 đô la Mỹ/kg, cao hơn cá Alaska Pollock (cá minh thái Alaska- PV)”, ông Kịch nói và cho rằng, chi phí thức ăn, thuốc, xăng, dầu, điện, nước tăng khiến giá thành sản xuất tăng.
Ông Văn của Trường Giang thì dẫn chứng, trước dịch Covid-19 thức ăn cá tra có giá chỉ 10.000 đồng/kg, nhưng sau dịch đã “vọt” lên mức giá 13.000 đồng/kg. “Hiện có giảm trở lại, nhưng cũng hơn 12.000 đồng/kg”, ông cho biết và nói rằng, từ chỗ thức ăn chiếm 55-60% giá thành sản xuất cá tra, thì nay đã “nhảy” lên 70-80%.
Theo ông Văn, tình hình dịch bệnh gia tăng cũng khiến nhu cầu sử dụng thuốc phòng trị bệnh tăng theo, từ 200 đồng/kg đã tăng lên 300-500 đồng/kg, thậm chí lên 800 đồng/kg đối với nhưng ao nuôi bị dịch bệnh nhiều.
Cũng theo ông Văn, cá tra nhiễm ký sinh trùng khiến cuống mật bị chai cứng, dẫn đến cá không thể tiết mật để tiêu hoá, khiến thức ăn bị tiêu hao nhiều hơn. “Bình thường hệ số thức ăn chỉ 1,55-1,6 thì hiện nay tăng lên 1,7-1,8 (tức để nuôi 1 kg cá tra nguyên liệu phải tiêu tốn đến 1,7-1,8 kg thức ăn- PV)”, ông dẫn chứng.
Chính vì vậy, theo ông, con đường để ngành cá tra tồn tại là phải hạ giá thành sản xuất. “Muốn vậy, phải giảm tỷ lệ hao hụt, tăng trưởng nhanh, giảm dịch bệnh, hệ số thức ăn thấp”, ông cho biết.
Để kéo giảm giá thành sản xuất cá tra, ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch VINAPA kiến nghị, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nên có ý kiến để Bộ Tài Chính giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi từ 2% như hiện nay xuống còn 0%.
Trong khi đó, bà Phạm Thị Thu Hồng, Phó tổng thư ký VINAPA, cho rằng cách đây tư 10 năm, đã có công trình nghiên cứu và ứng dụng thành công phương pháp cho ăn gián đoạn để hạ giá thành sản xuất cá tra. “Công trình này đã công bố và được ứng dụng từ cách đây 10 năm, cho nên, các doanh nghiệp, cơ sở nuôi nên áp dụng phương pháp này để hạ giá thành sản phẩm”, bà gợi ý.
Theo đó, phương pháp cho ăn gián đoạn được áp dụng theo cách thức một tuần nghỉ 2 ngày, tuy nhiên, kết quả đã được chứng minh qua thực tế là cá nuôi vẫn có tốc độ tăng trưởng đảm bảo như so với cho ăn liên tục. “Quan trọng nhất, hệ số tiêu hao thức ăn của phương pháp cho ăn gián đoạn giảm xuống còn 1,3-1,45”, bà Hồng cho biết và nói rằng, đơn vị này sẵn sàng hướng dẫn doanh nghiệp, cơ sở nuôi áp dụng để giúp giảm chi phí sản xuất cho ngành cá tra.
Trung Chánh
Th1215