Tin tức

Vĩnh Long: Hiệu quả mô hình trồng tắc xen cây ăn trái
Nguồn tin: Báo Vĩnh Long
Mô hình trồng tắc xen cây ăn trái đem lại hiệu quả, lợi nhuận khá cho nhà vườn.
Với ưu điểm mau cho trái, dễ chăm sóc và ít tốn chi phí, cây tắc được nhiều nhà vườn trồng xen trong các vườn cây ăn trái lâu năm để lấy ngắn nuôi dài. Mô hình này cũng mang lại hiệu quả, lợi nhuận khá cho nhà vườn.
Thời gian qua, nhiều hộ dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần cải thiện đời sống. Trong đó, xu hướng trồng cây lấy ngắn nuôi dài ngày càng phổ biến.
Và với những đặc tính dễ trồng, không kén đất, ít sâu bệnh, nhanh cho thu hoạch, trái tắc được thị trường ưa chuộng, cây tắc đã dần trở thành cây trồng cho hiệu quả, đem lại lợi nhuận khá cao cho nhà vườn.
Trồng tắc xen với bưởi trên 5 công đất được hơn 3 năm nay, gia đình chú Lê Văn Muôn (ấp Hiếu Thuận, xã Hòa Bình, huyện Trà Ôn, Vĩnh Long) đã có thu nhập khá. Hiện nay, mỗi tháng chú thu hoạch gần 1 tấn tắc, bán với giá dao động từ 7.000-16.000 đ/kg, thu nhập khoảng 10 triệu đồng/tháng.
Theo chú Muôn, trồng bưởi hơn 3 năm mới cho thu hoạch. Trong thời gian đó, tận dụng khoảng đất trống trên cùng mảnh vườn, giải quyết vấn đề trước mắt, trồng các loại cây cho thu hoạch sớm như xen canh thêm tắc thu hoạch sớm để lấy ngắn nuôi dài.
“Tắc sau khi trồng bén rễ thì chỉ 8 tháng cho bông. Nhưng vụ đầu phải lặt bông hết để dưỡng cho cây cứng cáp, không bị suy khi đeo trái quá sớm.
Tôi thấy cây tắc này dễ hợp thổ nhưỡng, ít tốn công chăm sóc lại không tốn nhiều phân thuốc nên cho lợi nhuận khá. Nhất là khi bưởi giảm giá, hơn 1 năm nay cây tắc lại trở thành thu nhập chính cho gia đình”- chú Muôn chia sẻ.
Đang hái tắc để giao cho thương lái, chị Lê Thị Diễm My- con gái chú Muôn chia sẻ: “Tắc cho trái quanh năm, đều đặn hàng tháng, có thể thu hoạch 100- 200 kg/ngày.
So với trồng cây cam thì trồng tắc khỏe hơn nhiều, không bỏ nhiều vốn mà cây lại nhạy trái. Bên cạnh đó, cũng đỡ tốn công làm cỏ vườn. Lấy công làm lời, trong gia đình thu hoạch tắc hàng ngày nên có lời nhiều hơn”.
Cũng trồng tắc xen vườn sầu riêng, anh Phạm Văn Tân (xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ) cho biết: Mô hình trồng tắc xen sầu riêng rất hiệu quả và hợp lý, vừa tiết kiệm chi phí trong sản xuất, vừa phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trong khi chờ sầu riêng cho trái, cây tắc cho thu nhập trước, góp phần giải quyết chi phí sinh hoạt hàng ngày và đầu tư phân bón, tưới tiêu, chăm sóc cây sầu riêng.
Theo anh Tân, việc thiết kế hệ thống ống tưới tự động, vừa giúp tiết kiệm công sức, vườn cây phát triển tốt, cây tắc sẽ “ăn ké” phân thuốc từ cây sầu riêng nên chỉ cần bón phân, tưới nước hợp lý, cây tắc sẽ phát triển tốt.
Qua đó, tạo điều kiện cho cây có mối quan hệ cộng hưởng cùng phát triển, nâng cao năng suất. “Quan trọng khi trồng tắc là phải thu hái đúng thời điểm, thu hái lúc trái còn nhỏ quá sẽ không đạt năng suất, nếu để to quá, quả chuyển chín thành màu vàng thì giá sẽ rất rẻ hoặc không bán được”- anh Tân cho hay.
Theo anh Lê Văn Núi- Chủ tịch Hội Nông dân xã Hòa Bình (huyện Trà Ôn), đẩy mạnh phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, hội vận động hội viên, nông dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thực hiện tốt đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa, sản phẩm làm ra đảm bảo sạch, an toàn thực phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, cạnh tranh thị trường trong nước cũng như nước ngoài.
Hội viên nông dân cũng tập trung cải tạo vườn kém hiệu quả; đồng thời chăm sóc tốt vườn cây ăn trái hiện có. Theo đó, nhiều mô hình sản xuất đã đạt được hiệu quả.
“Trong đó, các mô hình trồng xen đã tận dụng được diện tích đất của các vườn để cải thiện kinh tế khi các cây trồng chính chưa đến thời gian cho thu hoạch đã đem lại hiệu quả cho nhà vườn.
Việc chăm sóc các loại cây ngắn ngày này không làm ảnh hưởng đến việc trồng và chăm sóc cây ăn trái chính, ngược lại còn có tác dụng giữ đất, đủ nước, nông dân bớt công làm cỏ cho vườn, còn góp phần giải quyết việc làm và từng bước nâng cao thu nhập cho nông dân”- anh Núi cho hay.
Nhiều nhà vườn cho biết, để việc trồng xen canh hiệu quả, người sản xuất phải cần lưu ý về thổ nhưỡng, đặc tính của từng loại cây ăn trái để có sự lựa chọn phù hợp.
Cùng với đó, cần chú trọng đến việc chọn đối tượng trồng xen canh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây trồng chính. Ngoài ra, khi trồng xen canh, cần chú ý đến khoảng cách giữa các cây trồng, sự phù hợp giữa cây được trồng xen canh với cây trồng chính, tạo điều kiện cho cây phát triển tốt nhất.
Bài, ảnh: PHƯƠNG THẢO
Th718

Xây dựng chuỗi liên kết bền vững cho trái cây tươi
Nguồn tin: Báo Đồng Nai
Thời gian qua, Đồng Nai tăng mạnh diện tích cây ăn trái. Đặc biệt, tỉnh thuộc tốp đầu cả nước về phát triển diện tích của 2 loại cây ăn trái chủ lực đang đứng đầu danh mục xuất khẩu là chuối và sầu riêng.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Phi (thứ 3 từ phải sang) thăm vùng trồng sầu riêng xuất khẩu tại P.Xuân Lập, TP.Long Khánh. Ảnh: B.Nguyên
Tuy nhiên, mặt hàng trái cây tươi mang tính mùa vụ, thời gian bảo quản tự nhiên ngắn nên rủi ro về thị trường cao. Tỉnh cần có chiến lược dài hạn phát triển ngành sản xuất trái cây tươi theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ bền vững trên cơ sở minh bạch về nguồn gốc, chất lượng.
* Tăng trưởng nhanh, thiếu bền vững
Tính đến cuối năm 2022, tổng diện tích cây ăn trái của Đồng Nai là 76.650ha, tăng hơn 3,2 ngàn ha so với năm trước, chiếm hơn 45% tổng diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh. Nông dân tập trung đầu tư vào một số loại cây ăn trái có giá trị kinh tế, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương như: xoài, bưởi, thanh long, chôm chôm…
Trong đó, với diện tích gần 14 ngàn ha, Đồng Nai đang đứng đầu cả nước về diện tích trồng chuối. Sầu riêng cũng là cây trồng chủ lực phát triển nhanh về diện tích trong thời gian gần đây. Với hơn 11,3 ngàn ha, Đồng Nai vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam bộ và đứng thứ 4 cả nước về diện tích sầu riêng.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh CAO TIẾN DŨNG, Đồng Nai có nhiều lợi thế xây dựng, phát triển ngành Nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn. Để khắc phục những điểm yếu còn tồn tại, ngành Nông nghiệp cần xây dựng lại chiến lược phát triển, nhất là ưu tiên xây dựng sàn giao địch nông sản điện tử, đầu tư cho sơ chế, chế biến. |
Tỉnh đã hình thành được những vùng chuyên canh trồng các loại cây ăn trái chủ lực với quy mô lớn, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất và cho năng suất, chất lượng cao. Cây ăn trái vẫn tiếp tục giữ đà tăng trưởng cao cả về diện tích và sản lượng. Trong 6 tháng đầu năm 2023, sản lượng chuối đạt hơn 90,4 ngàn tấn, tăng hơn 16,6%; sầu riêng đạt gần 12,9 ngàn tấn, tăng hơn 15,3%; bưởi đạt gần 29,3 ngàn tấn, tăng 17,5%…
Trái sầu riêng đang lên ngôi trên thị trường xuất khẩu. Từ đầu vụ đến nay, giá sầu riêng luôn ổn định ở mức cao. Ngay cả thời điểm rộ vụ như hiện nay, sầu riêng đạt chuẩn xuất khẩu bán tại vườn vẫn ở mức từ 45-50 ngàn đồng/kg. Nhờ đó, vụ thu hoạch năm nay, nông dân trồng sầu riêng thu lợi nhuận từ 15-20 ngàn đồng/kg so với mọi năm. Theo Sở NN-PTNT, năm 2023, Đồng Nai xuất khẩu được khoảng 20 ngàn tấn sầu riêng, với giá trị mang lại khoảng 50 triệu USD.
Tuy nhiên, trái cây tươi mang tính mùa vụ, thời gian bảo quản tự nhiên ngắn nên rủi ro lớn. Đây cũng là nguyên nhân trái thanh long từng là mặt hàng xuất khẩu tỷ USD nhưng từ sau đại dịch Covid-19 đến nay, nông dân trồng thanh long liên tục “kêu cứu” vì xuất khẩu khó khăn, nhất là quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Thời gian qua, nông dân trên địa bàn tỉnh đua nhau chặt bỏ cây thanh long, chuyển sang trồng sầu riêng. Và rủi ro có thể sẽ xảy ra với cây sầu riêng và nhiều loại cây ăn trái khác nếu không có chiến lược phát triển lâu dài và bền vững hơn.
* Xây dựng chuỗi liên kết bền vững
Tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn về lĩnh vực nông nghiệp tại Kỳ họp thứ 12, HĐND tỉnh khóa X, đại biểu Phạm Ngọc Hà, Tổ đại biểu HĐND H.Tân Phú đặt vấn đề, Đồng Nai có diện tích cây ăn trái lớn, tình trạng được mùa mất giá thường xuyên xảy ra. Năm 2023, xuất khẩu trái cây tươi tăng trưởng tốt nhưng yêu cầu phải có mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc rõ ràng, nhất là đảm bảo về chất lượng. Đại biểu yêu cầu Sở NN-PTNT cho biết kết quả thực hiện xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xuất xứ, quy trình sản xuất tập trung nông sản sạch, sản phẩm OCOP (chương trình Mỗi xã một sản phẩm) của tỉnh thời gian qua như thế nào? Các giải pháp trong thời gian tới nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiêu thụ nông sản?
Trả lời ý kiến của đại biểu, Giám đốc Sở NN-PTNT Cao Tiến Sỹ cho biết, tồn tại mang tính cố hữu của nền nông nghiệp Việt Nam nói chung, của Đồng Nai nói riêng là sản xuất còn mang tính manh mún, nhỏ lẻ. Hiện chỉ khoảng 20% diện tích cây trồng trên địa bàn tỉnh sản xuất tập trung và nằm trong các chuỗi liên kết. Còn 80% vẫn sản xuất nhỏ lẻ và hệ lụy là các nhà vườn khó áp dụng khoa học kỹ thuật, khó kiểm soát được quy trình chất lượng và không chuyên nghiệp trong tiếp cận thị trường. Đầu ra của trái cây tươi chủ yếu dựa vào thương lái và tình trạng được mùa, mất giá chủ yếu tập trung ở khu vực này.
Vùng chuyên canh sầu riêng đạt chuẩn VietGAP, được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu tại xã Xuân Thiện, H.Thống Nhất. Ảnh: B.Nguyên
Ở tầm vĩ mô, đòi hỏi nhiều chính sách đồng bộ. Tuy nhiên, ở cấp độ địa phương, ngành trồng trọt của tỉnh đã hướng đến giải quyết các vấn đề về thị trường, tổ chức sản xuất tạo điều kiện đảm bảo cuộc sống và thu nhập cho nhà nông.
Đông Nam bộ không có lợi thế về cây lương thực mà là cây ăn trái. Theo đó, Đồng Nai tập trung chuyển đổi sang các loại hình cây ăn trái có giá trị cao; chuyển hướng sản xuất tập trung để đủ sản lượng cung cấp cho thị trường trong nước, xuất khẩu và có điều kiện để ứng dụng khoa học kỹ thuật, giảm giá thành sản xuất.
Hiện ngành Nông nghiệp cùng các địa phương đã xác định quy hoạch được 98 vùng sản xuất nông nghiệp tập trung với diện tích khoảng 19 ngàn ha. Khi có quy hoạch, các địa phương có điều kiện đầu tư hạ tầng như: điện, thủy lợi, giao thông cho các vùng sản xuất tập trung này và tạo điều kiện cho sản xuất bền vững hơn và cũng là điều kiện để kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.
Đồng Nai hiện có 144 chuỗi liên kết, 109 HTX, 529 tổ hợp tác. Các lực lượng này đã đóng vai trò rất quan trọng làm kênh dẫn, cầu nối từ người sản xuất đến tiêu thụ. Thời gian tới, Đồng Nai tập trung xây dựng, phát huy vai trò của các HTX, các chuỗi liên kết để cùng xây dựng ngành hàng, khắc phục được tình trạng được mùa mất giá. Ngoài ra, việc tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật mới giảm được giá thành, tăng được chất lượng cũng như kiểm soát được đầu ra khi tổ chức sản xuất rải vụ hạn chế sự phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết.
Phó chủ tịch HĐND tỉnh HOÀNG THỊ BÍCH HẰNG: Cần triển khai quyết liệt các giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững
Đồng Nai đứng đầu cả nước về diện tích một số cây ăn trái; hình thành được nhiều chuỗi liên kết với diện tích được xây dựng mã số vùng trồng tương đối lớn. Tuy nhiên, các chuỗi liên kết đã hình thành nhưng hoạt động chưa bền vững. Việc kêu gọi, thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp có năng lực về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế.
Qua nhiều đợt tiếp xúc cử tri, đại biểu nhiều lần ghi nhận ý kiến về tình trạng được mùa mất giá. Đề nghị trong thời gian tới, UBND tỉnh có sự chỉ đạo quyết liệt hơn, trọng tâm hơn cho ngành Nông nghiệp, các địa phương triển khai các nhóm giải pháp của ngành để giảm thiệt hại cho nông dân trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh CAO TIẾN SỸ: Đẩy nhanh chuyển đổi số để thị trường nông sản minh bạch, thông suốt
Muốn sản xuất và bán được hàng phải có thông tin thị trường. Nhưng đối với ngành Nông nghiệp, thông tin thị trường hiện chỉ dừng lại ở con số thống kê, chưa đáp ứng kịp thời đối với thị trường nông sản lên xuống hàng ngày. Thị trường nông sản còn tù mù nên chưa tạo sự thông suốt trong lưu thông hàng hóa nông sản.
Để giải quyết vướng mắc này phải gắn với việc thực hiện chuyển đổi số của ngành Nông nghiệp. Bộ NN-PTNT đang thực hiện việc này, cập nhật thông tin nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ, từ đó sẽ có công cụ tốt hơn giúp thị trường nông sản minh bạch hơn, thông suốt hơn.
Lê Quyên (ghi)
Bình Nguyên
Th710

Phong Ðiền phát triển bền vững vườn cây ăn trái
Nguồn tin: Báo Cần Thơ
Bài, ảnh: KIM PHÚC
Phong Ðiền là huyện có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc trưng và có thế mạnh vườn cây ăn trái. Phát triển hiệu quả và bền vững vườn cây ăn trái, huyện xây dựng các mô hình sản xuất theo quy trình VietGAP, Global GAP để hướng đến sản xuất nông nghiệp chất lượng cao. Ðồng thời, chú trọng tìm đầu ra cho hàng nông sản tiếp cận các thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài…
Ký kết tiêu thụ vú sữa của doanh nghiệp và Hợp tác xã Vườn cây ăn trái Trường Khương A.
Nâng giá trị sản phẩm
Phong Ðiền hiện có hơn 8.789ha diện tích cây ăn trái, với nhiều loại có giá trị kinh tế cao như sầu riêng, dâu Hạ Châu, vú sữa, nhãn Ido, chanh không hạt, măng cụt, cam mật… được nhiều người biết đến, tiêu thụ thị trường trong và ngoài nước. Phát huy thế mạnh vườn cây ăn trái, thời gian qua, ngành Nông nghiệp huyện Phong Ðiền tích cực hỗ trợ, khuyến khích nông dân cải tạo vườn tạp, vườn kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn trái ngon, đặc sản để mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tính riêng trong nửa đầu năm 2023, nông dân trên địa bàn huyện đã cải tạo được 51ha vườn cây ăn trái và 186ha đất trồng lúa kém hiệu quả, chuyển sang vườn cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, huyện thường xuyên phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân.
Phong Ðiền quan tâm, chú trọng việc xây dựng các mô hình sản xuất theo quy trình VietGAP và Global GAP để giúp tăng năng suất, chất lượng, đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp. Huyện đang triển khai 9 mô hình sản xuất theo quy trình VietGAP, trong đó có 8 mô hình VietGAP trên cây ăn trái. Ðến nay toàn huyện có có 23 mô hình sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, tổng diện tích 285,8ha, với 422 hộ tham gia; 1 mô hình Global GAP trồng cây vú sữa ở xã Trường Long, diện tích 16,1ha với 12 hộ tham gia. Huyện còn xây dựng mã số vùng trồng cây ăn trái trên địa bàn; hỗ trợ tham gia chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”…
Theo ông Lê Hoàng Thông, Tổ trưởng Tổ hợp tác Sầu riêng Tân Thới, huyện Phong Ðiền, sầu riêng của tổ hợp tác sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP được thành phố công nhận là sản phẩm OCOP đạt 4 sao. Qua đó, sầu riêng Tân Thới được nhiều người tiêu dùng và doanh nghiệp biết đến và ký hợp đồng tiêu thụ. Sắp tới, tổ hợp tác sẽ xây dựng sản phẩm theo tiêu chuẩn Global GAP, chinh phục các thị trường “khó” tính, góp phần nâng cao thu nhập cho bà con.
Ông Phạm Văn Lơ, Giám đốc Hợp tác xã nhãn Ido Nhơn Nghĩa, huyện Phong Ðiền, cho biết: Năm nay, hợp tác xã sản xuất nhãn theo tiêu chuẩn VietGAP, đăng ký mã số vùng trồng để liên kết với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu…
Để đầu ra ổn định
Hằng năm, sản lượng thu hoạch cây ăn trái trên địa bàn huyện Phong Ðiền đạt khoảng 100.000 tấn. Trong đó, dâu Hạ Châu trên 297ha, sản lượng khoảng 4.300 tấn/năm; sầu riêng 3.284ha, sản lượng khoảng 27.200 tấn/năm, nhãn Ido gần 496ha, sản lượng khoảng 4.550 tấn/năm… Trong 6 tháng đầu năm 2023, sản lượng thu hoạch cây ăn trái của huyện đạt 96.634 tấn, đạt 97,34% kế hoạch năm. Tạo đầu ra ổn định, giúp bà con yên tâm sản xuất, huyện Phong Ðiền đẩy mạnh kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của địa phương.
Theo đó, huyện đã phối hợp với các sở, ngành hỗ trợ nhà vườn ký kết với các thương lái, doanh nghiệp, chuỗi bán lẻ bao tiêu cây ăn trái. Cuối tháng 3 vừa qua, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu Vina T&T đã ký kết với Hợp tác xã Vườn cây ăn trái Trường Khương A tiêu thụ sản phẩm vú sữa. Ông Trần Văn Chiến, Giám đốc Hợp tác xã Vườn cây ăn trái Trường Khương A, huyện Phong Ðiền, chia sẻ: Các cơ quan chức năng hỗ trợ, giúp đỡ hợp tác xã xây dựng nhãn hiệu hàng hóa, chứng nhận VietGAP, Global GAP góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, đầu ra sản phẩm luôn ổn định, ký kết với siêu thị và các công ty xuất nhập khẩu. Hợp tác xã sẽ tiếp tục ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để mang sản phẩm chất lượng ra thị trường…
Bắt kịp xu hướng thương mại điện tử, Phong Ðiền thúc đẩy phát triển kinh tế số nông nghiệp, giúp nông dân, hộ sản xuất nông nghiệp và các hợp tác xã, tổ hợp tác quảng bá, giới thiệu qua các sàn thương mại điện tử. Ðây cũng là cầu nối trung gian đưa các loại trái cây đặc sản của Phong Ðiền đến thị trường trong và ngoài nước. Huyện cũng tổ chức các lễ hội, hội chợ nhằm quảng bá, giới thiệu các loại trái cây đặc sản, chất lượng cao do nông dân Phong Ðiền sản xuất. Ðồng thời giúp nhà nông có điều kiện tiếp cận thị trường, tiêu thụ nông sản, nâng cao thu nhập, thu hút khách đến tham quan, thưởng thức các loại trái cây Phong Ðiền… Mới đây, UBND huyện Phong Ðiền tổ chức Hội chợ trái cây nhà nông lần thứ 2 với 45 gian hàng, có sự tham gia của các hợp tác xã, tổ hợp tác và nông dân trên địa bàn huyện sản xuất trái cây theo hướng VietGAP. Qua 4 ngày diễn ra hội chợ (từ ngày 21 đến 24-6-2023), đã tiêu thụ 12 tấn trái cây với doanh thu khoảng 300 triệu đồng.
Ðể phát triển bền vững cây ăn trái, nâng giá trị và thu nhập của nông dân, ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Chủ tịch UBND huyện Phong Ðiền, cho biết: Huyện quan tâm xây dựng vùng chuyên canh sản xuất cây ăn trái tập trung để thuận tiện ứng dụng khoa học và kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Ðồng thời, chỉ đạo ngành Nông nghiệp huyện thường xuyên theo dõi dịch bệnh trên cây trồng, hướng dẫn nông dân cách chăm sóc cây ăn trái; củng cố các hợp tác xã, tổ hợp tác trong sản xuất cây ăn trái. Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động bà con nông dân sản xuất theo đúng quy trình, tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Huyện chú trọng kết nối, hỗ trợ nhà vườn ký kết với các công ty, doanh nghiệp, đơn vị thu mua để bao tiêu trái cây, tạo đầu ra ổn định cho cây ăn trái…
Th708

Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững ở Đà Lạt
Nguồn tin: báo Lâm Đồng
Nông nghiệp Đà Lạt với nhiều giải pháp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thông minh, từng bước hoàn chỉnh và nhân rộng quy trình sản xuất hữu cơ, tuần hoàn, đã tập trung xây dựng các vùng cây trồng chủ lực phát triển bền vững theo quy hoạch.
Giá trị thu nhập bình quân cây hoa Đà Lạt hiện đạt 970 triệu đồng/ha/năm
ĐẠT VÀ VƯỢT PHẦN LỚN CÁC CHỈ TIÊU
Thống kê trong năm vừa qua, toàn TP Đà Lạt sản xuất theo quy hoạch 1.900 ha rau tại các Phường 7, 8, 9, 11, 12, xã Xuân Thọ; 480 ha chè xã Xuân Trường và xã Trạm Hành; gần 3.950 ha cà phê ở các xã Xuân Trường, Trạm Hành, Xuân Thọ và Tà Nung. Riêng làng hoa Vạn Thành, Phường 5 và làng hoa Xuân Thành, xã Xuân Thọ sản xuất theo quy hoạch với quy mô lần lượt 27 ha và hơn 20 ha gắn với bảo tồn làng nghề truyền thống kết hợp với dịch vụ, du lịch.
Đáng kể, toàn TP Đà Lạt đã xây dựng 7 mô hình cải tạo chất lượng cây giống khoai lang mật; 5 mô hình nông nghiệp thông minh; 3 mô hình dâu tây công nghệ cao; 1 mô hình trồng ớt ngọt trên giá thể; 3 mô hình trồng cây trà hoa vàng… Đến nay, toàn TP Đà Lạt đạt 60 ha canh tác rau, hoa, cây ăn quả ứng dụng công nghệ cảm biến tự động đo nhiệt độ, độ ẩm, CO2, cường độ ánh sáng từ Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ; áp dụng công nghệ canh tác thủy canh, khí canh (30 ha), công nghệ IoT (300 ha)…
Kết quả, toàn TP Đà Lạt đều đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại, bền vững. Theo đó, tổng diện tích canh tác cây trồng các loại tương ứng với sản lượng đối với hoa (5.926 ha, 2,4 tỷ cành); rau (10.548 ha, 441.961 tấn); chè (236,8 ha, 3.032 tấn); cà phê (5.156,6 ha, 9.660 tấn nhân); dâu tây 160 ha, trong đó 140 ha sử dụng giống mới, canh tác trong nhà kính, tưới nước, bón phân qua hệ thống tưới nhỏ giọt… Tỷ lệ nông sản được tiêu thụ thông qua các hình thức liên kết và thông qua hợp đồng đạt trên 48%/tổng sản lượng. Giá trị thu nhập bình quân cây hoa đạt 970 triệu đồng/ha/năm; đặc biệt, một số mô hình canh tác hoa lily, địa lan thu nhập từ 2,5 – 3 tỷ đồng/ha/năm; cây rau đạt 830 triệu đồng/ha/năm; dâu tây đạt 3 – 4 tỷ đồng/ha/năm…
Tính chung, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao toàn TP Đà Lạt đạt 7.050 ha, tăng 100 ha so với cùng kỳ năm trước, chiếm trên 65% diện tích đất canh tác. Trong đó, diện tích rau, hoa và cây đặc sản ứng dụng công nghệ cao 5.009 ha (rau: 2.773 ha, dâu tây: 140 ha, atisô: 110 ha; hoa 1.986 ha); diện tích cây chè 230 ha; cà phê 1.811 ha. Riêng diện tích rau sản xuất theo quy trình Chứng nhận VietGAP 1.020 ha; cây hàng năm áp dụng công nghệ tưới tự động, tưới nhỏ giọt đạt 95% trên tổng diện tích đất canh tác. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất giống cây trồng với 48 cơ sở nuôi cấy mô thực vật, sản lượng 31,8 triệu cây giống các loại phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. Hiện nay, TP Đà Lạt có 2 làng hoa Vạn Thành và Thái Phiên được công nhận vùng nông nghiệp công nghệ cao. Bên cạnh đó còn có các đơn vị được công nhận doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao với tổng quy mô 374,1 ha gồm: Công ty Cổ phần CNSH Rừng Hoa Đà Lạt; Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Đà Lạt G.A.P; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH Sinh Học Sạch; Công ty TNHH Công nghệ sinh học F1; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt. Và 2 đơn vị được cấp Giấy chứng nhận sản xuất theo quy trình hữu cơ là Công ty TNHH Liên doanh Organik Đà Lạt 4,5 ha, Chi nhánh Công ty TNHH trồng trọt thương mại Kim Bằng 1 ha.
Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Đà Lạt. Ảnh: Văn Báu
HOÀN THIỆN CHUỖI GIÁ TRỊ CÁC SẢN PHẨM LỢI THẾ CẠNH TRANH
Đến nay, TP Đà Lạt có 62 chuỗi liên kết giá trị từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ giữa các doanh nghiệp với hợp tác xã và 2.264 các hộ nông dân, quy mô diện tích 2.319 ha, chiếm 22,1% diện tích canh tác. Cụ thể gồm 39 chuỗi liên kết với 1.232 ha rau, sản lượng 117.009 tấn; 8 chuỗi liên kết với 107 ha hoa, sản lượng 102 triệu cành; 7 chuỗi liên kết với 805 ha cà phê, sản lượng 2.310 tấn; 4 chuỗi liên kết với 144 ha chè, sản lượng 1.146 tấn…
Mục tiêu trong những năm tới gắn chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao với xây dựng Đà Lạt trở thành thành phố thông minh, tập trung nghiên cứu, chuyển giao công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người nông dân. Đồng thời, tiếp tục phát triển nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn đối với các sản phẩm chủ lực như rau, hoa, chè, cà phê, cây đặc sản, dược liệu; xây dựng Mô hình Làng đô thị xanh tại xã Xuân Thọ. Đặc biệt, “tập trung hoàn thiện chuỗi giá trị các sản phẩm lợi thế cạnh tranh trên thị trường như: rau, hoa, chè, cà phê, đặc sản, dược liệu; mở rộng liên kết sản xuất theo tiêu chí doanh nghiệp là nòng cốt, kinh tế tập thể, hợp tác xã là trung tâm, nông dân là chủ thể…”.
VĂN VIỆT
Th708

Hợp tác xã cây ăn quả Tân Mỹ: Cung cấp sản phẩm sạch, hướng tới xuất khẩu
Nguồn tin: báo Bình Dương
Với sản phẩm chủ lực là bưởi, Hợp tác xã (HTX) Cây ăn quả Tân Mỹ (xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên) do anh Lê Minh Sang làm giám đốc là một trong những mô hình kinh tế tập thể hiệu quả và điển hình của tỉnh.
Từ nguồn vốn vay hỗ trợ, HTX Cây ăn quả Tân Mỹ có điều kiện đầu tư máy rửa bưởi tự động
Theo anh Lê Minh Sang, năm 2006 anh bắt đầu trồng bưởi với diện tích 10 ha, đến năm 2013, sản phẩm bưởi của anh bắt đầu vào siêu thị. Cũng vào thời điểm này, Nhà nước có chủ trương mỗi xã phải có một đơn vị kinh tế hợp tác. Anh Sang và nhiều nông hộ xung quanh thành lập tổ hợp tác đầu tiên ở địa phương. Được chính quyền địa phương hỗ trợ từ thủ tục pháp lý đến phương hướng hoạt động, năm 2015, HTX Cây ăn quả Tân Mỹ chính thức ra đời với 7 thành viên.
Học hỏi kinh nghiệm từ các đơn vị bạn, tích cực tìm kiếm thị trường và mạnh dạn áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP cùng sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, HTX Cây ăn quả Tân Mỹ không những duy trì hoạt động mà còn gắn kết được với doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả. Đến nay, HTX Cây ăn quả Tân Mỹ có 22 thành viên, với tổng diện tích trên 60 ha, trồng các loại bưởi da xanh, bưởi đường lá cam, các loại cam và dưa lưới. Tổng sản lượng sản xuất trên 300 tấn/ năm, lợi nhuận bình quân hàng năm đạt 15 tỷ đồng/năm. Tạo việc làm cho các thành viên và khoảng 20 lao động, thu nhập bình quân của thành viên và người lao động từ 8-10 triệu đồng/tháng/người.
Anh Lê Minh Sang cho biết từ khi thành lập cho đến nay, HTX luôn nhận được nhiều chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để phát triển. HTX đã tham gia đề án hỗ trợ xây dựng HTX sản xuất, kinh doanh gắn với chuỗi giá trị, giúp giảm chi phí đầu tư 18-22%. Anh Sang cho rằng để tiếp cận nguồn vốn vay, nông dân phải có phương án kinh doanh hiệu quả, đây là bài toán khó với các nông hộ nhỏ lẻ. Thông qua HTX, việc tổ chức sản xuất theo phương thức hợp tác sẽ giúp các thành viên giải quyết nhu cầu vốn từ chính sách hỗ trợ tốt hơn.
Bên cạnh đó, Chi cục Phát triển nông thôn tổ chức lớp đào tạo, tập huấn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Mặt khác, với sự hướng dẫn của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật về quy trình áp dụng thực hành nông nghiệp tốt VietGAP, tập huấn quản lý dịch hại, giúp giảm tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm nông sản an toàn để cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
Có thể thấy, hiệu quả từ chính sách đúng, HTX Cây ăn quả Tân Mỹ đã mạnh dạn đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp. HTX đã xây dựng và đăng ký nhãn mác, sử dụng tem điện tử mã cod QR để truy xuất nguồn gốc. Với những nỗ lực đó, hiện nay sản phẩm của HTX được khách hàng trong và ngoài tỉnh tin dùng. Ngoài thị trường trong nước, sản phẩm bưởi của HTX còn đủ điều kiện xuất khẩu sang Trung Quốc và Singapore.
PHƯƠNG ANH
Th703

Chanh không hạt Trà Vinh chinh phục châu Âu
Nguồn tin: báo Nông Nghiệp
TRÀ VINH Hợp tác xã trồng chanh không hạt tại Trà Vinh góp phần cải thiện cho đời sống người dân địa phương thông qua việc mở rộng xuất khẩu sang thị trường châu Âu.
Chanh không hạt trồng giúp nhiều nông dân Trà Vinh cải thiện kinh tế. Ảnh: Hồ Thảo.
Khi đặt chân đến xã Huyền Hội, huyện Càng Long, chúng tôi không thể bỏ qua cảnh vườn chanh xanh mướt, trĩu quả bên những ngôi nhà mới khang trang của người dân. Theo lời kể trước kia trồng lúa và dừa từng là hoạt động chủ yếu của cư dân địa phương, nhưng lại không mang lại lợi nhuận đáng kể. Điều này đã thúc đẩy họ tìm kiếm giải pháp mới và cây chanh không hạt đã nổi lên như một lựa chọn vượt trội.
Ông Phan Đức Tài, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) trồng chanh không hạt Thành Trí, là người tiên phong trong việc trồng loại cây này. Ông đã nghiên cứu rất kỹ về chanh không hạt và khám phá cơ hội xuất khẩu sang châu Âu. Qua việc canh tác tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, HTX trồng chanh không hạt Thành Trí đã thiết lập mối liên kết giữa các nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu. HTX đã ký hợp đồng xuất khẩu chanh không hạt với một công ty ở Hà Lan, thị trường quan trọng của châu Âu, với số lượng hàng hóa lên đến 100 tấn mỗi năm.
HTX trồng chanh không hạt Thành Trí tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế GlobalGAP và các nông dân tham gia HTX được hưởng giá từ 10 nghìn đồng trở lên cho mỗi kg chanh. Hơn nữa, họ còn được hưởng ưu đãi khi mua phân bón và thuốc trừ sâu với giá ưu đãi, không qua trung gian.
Ông Phan Đức Tài cho hay: “Chanh không hạt có quả tạo thành chùm, vỏ mỏng, nước ít chua hơn và không có vị đắng. Chanh không hạt được sử dụng làm nước giải khát có mùi thơm ngon và tác dụng giải nhiệt tuyệt vời, do đó, thị trường rất ưa chuộng. Để nâng cao hiệu suất kinh doanh, HTX đang có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh tế bằng cách kết hợp mô hình vườn, ao, chuồng. Bên cạnh đó, chúng tôi đã hợp tác với các doanh nghiệp lớn để mở rộng hoạt động trồng đậu bắp và đu đủ, nhằm tạo thêm nguồn thu nhập cho các thành viên trong HTX”.
Sự thành công của HTX trồng chanh không hạt Thành Trí đã truyền cảm hứng cho những nông dân khác. Gần đây, nhiều hộ gia đình tại xã Huyền Hội đã chuyển từ trồng dừa sang trồng cây chanh không hạt. Một trong số đó là ông Nguyễn Văn Danh ở ấp Sóc, người đã mua giống từ HTX và trồng trên một diện tích 4.000m2 đất nhà.
Ông Danh cho biết, cây chanh không hạt chỉ cần chăm sóc đúng cách khoảng 17 tháng bắt đầu cho trái, kỹ thuật trồng cũng đơn giản hơn so với loại cây khác. Giá bán ổn định từ 20 – 30 nghìn đồng/kg vào những tháng cao điểm, trong khi thời điểm giá rẻ cũng từ 15 – 20 nghìn đồng/kg. Hai tuần, ông có thể thu hoạch một lần và thu nhập hàng năm của ông đạt khoảng 400 triệu đồng từ 4 công đất trồng chanh (1 công = 1.000m2). Trồng chanh chỉ khó nhất là thu hoạch, phải thuê nhân công hái trái với giá 200 nghìn đồng/người/ngày.
Sự thành công của việc trồng cây chanh không hạt tại xã Huyền Hội, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, là một ví dụ điển hình về sự sáng tạo và tận dụng cơ hội của người nông dân Việt Nam. Thông qua việc hợp tác, tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng thị trường xuất khẩu, họ đã đạt được thành công và tạo ra lợi ích kinh tế cho cộng đồng. Câu chuyện này không chỉ chứng minh tiềm năng phát triển của nông nghiệp Việt Nam mà còn đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.
Chanh không hạt được HTX thu mua với giá ổn định từ 10 nghìn đồng/kg trở lên. Ảnh: Hồ Thảo.
Ông Nguyễn Thanh Tùng, một cán bộ nông nghiệp tại xã Huyền Hội, cũng chia sẻ rằng HTX ban đầu đã gặp khó khăn tài chính và may mắn nhận được sự hỗ trợ từ UBND xã với khoản tiền là 30 triệu đồng. Điều này đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của HTX. Hiện nay, thị trường chính của HTX là châu Âu, và thành công này đã làm tăng số lượng thành viên của HTX trồng chanh không hạt Thành Trí từ 10 hộ ban đầu lên trên 100 hộ.
Đồng thời, diện tích trồng cây đã được mở rộng và cơ hội việc làm mới đã được tạo ra cho người lao động trong địa phương. Mô hình trồng chanh thành công không chỉ mang lại thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình mà còn đóng góp vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Nông dân trong khu vực đã chứng tỏ khả năng thích nghi với những thay đổi và tận dụng những cơ hội mới để cải thiện cuộc sống của mình. Qua việc mở rộng xuất khẩu sang châu Âu, chanh không hạt Trà Vinh đã khẳng định được chất lượng và uy tín trên thị trường quốc tế.
Th626

Đam Rông: Chú trọng nâng cao chất lượng sầu riêng để mở hướng xuất khẩu
Nguồn tin: Báo Lâm Đồng
(LĐ online) – Những năm gần đây, huyện Đam Rông tổ chức sản xuất sầu riêng theo hình thức liên kết xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn, nâng cao chất lượng để xuất khẩu.
Huyện Đam Rông đang tập trung chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang trồng sầu riêng
MỞ RỘNG QUY MÔ, LIÊN KẾT SẢN XUẤT
Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đam Rông, sầu riêng là một trong những cây trồng tiềm năng và là thế mạnh của huyện. Thời gian qua, sản xuất sầu riêng trên địa bàn huyện được tập trung phát triển và đạt kết quả cao.
Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đam Rông cho biết: Huyện có khí hậu, thổ nhưỡng và thủy văn thuận lợi cho cây sầu riêng phát triển. Đặc biệt, huyện có điều kiện để hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn, đáp ứng nguồn nông sản chất lượng và hướng đến xuất khẩu. Với mức giá giao động từ 40.000 đến 60.000 đồng/kg như hiện nay, sầu riêng đã trở thành mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả, giúp nhiều nông hộ vươn lên làm giàu.
Cũng theo bà Hà, hiện nay trên địa bàn huyện đã hình thành và đang mở rộng các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sầu riêng. Trong đó bao gồm 1 hợp tác xã và 5 tổ hợp tác sản xuất sầu riêng. Qua thống kê, diện tích trồng sầu riêng toàn huyện ở vào khoảng 1.800 ha; trong đó, diện tích trồng thuần gần 750 ha, trồng xen trên 1.000 ha.
Diện tích sầu riêng ứng dụng công nghệ cao của địa phương khoảng 578 ha; diện tích bước vào giai đoạn kinh doanh là 451 ha, chiếm 24,8% tổng diện tích với tổng sản lượng trên 4.300 tấn.
Hiện nay, các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu sầu riêng đang đầu tư, mở rộng tại địa bàn huyện với vùng liên kết lên đến hàng trăm ha. Ngoài ra, để đáp ứng các yêu cầu thị trường, đặc biệt xuất khẩu chính ngạch qua thị trường Trung Quốc, một số doanh nghiệp đã đề xuất cấp 5 mã số vùng trồng với tổng diện tích khoảng trên 260 ha.
Bà Nguyễn Thị Thanh Hà cho biết: “Để các mô hình sản xuất sầu riêng đạt hiệu quả cao, thời gian qua, ngành nông nghiệp huyện thường xuyên tập huấn cho người sản xuất, tổ chức các cuộc trao đổi kỹ năng sản xuất tại vườn điểm. Ngoài ra, còn xây dựng các mô hình sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao, mô hình tưới tiết kiệm để phổ biến đến người dân”.
Nông dân tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng trái sầu riêng
CHUYỂN ĐỔI CÂY TRỒNG KÉM HIỆU QUẢ QUA TRỒNG SẦU RIÊNG
Để đẩy mạnh phát triển diện tích trồng sầu riêng trên địa bàn huyện, hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn và đáp ứng nguồn nông sản chất lượng cao cung cấp cho thị trường, hướng đến xuất khẩu, ngành nông nghiệp huyện Đam Rông hướng đến thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, liên kết chuỗi giá trị, tiêu thụ và chế biến sâu nông sản.
Đồng thời, tổ chức công tác khuyến nông, trao đổi kỹ năng sản xuất sầu riêng đầu vườn cho nông hộ; hướng dẫn nông dân thực hành sản xuất sầu riêng an toàn theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Huyện cũng chú trọng các giải pháp về kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng, tăng năng suất, sản lượng sầu riêng gắn kết với chuỗi giá trị và liên kết tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu.
Ngành nông nghiệp huyện Đam Rông đang thực hiện hiệu quả kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích cây trồng kém hiệu quả như điều, cà phê già cỗi thu nhập dưới 50 triệu đồng/ha/năm sang trồng sầu riêng. Đối với diện tích sầu riêng đang trồng xen, địa phương này tổ chức vận động người dân chuyển đổi sang trồng thuần khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh, tức năm thứ 4 trở lên, để thuận tiện chăm sóc và tăng năng suất, chất lượng.
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đam Rông đang hướng dẫn UBND các xã tổ chức rà soát, đánh giá các tiêu chí sản xuất sầu riêng công nghệ cao. Và trên cơ sở rà soát này, ngành nông nghiệp sẽ đề xuất các giải pháp hỗ trợ đối với các tiêu chí chưa đạt để hình thành vùng sầu riêng công nghệ cao vào cuối năm 2023.
Ông Nguyễn Văn Châu – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng cho biết, trước đây, Đam Rông là huyện khó khăn về kinh tế. Tuy nhiên, những năm gần đây, Đam Rông đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tái cơ cấu nông nghiệp, đặc biệt phát triển nông nghiệp công nghệ cao với nhiều loại cây trồng giá trị.
“Đặc biệt cây sầu riêng đã được huyện Đam Rông lồng ghép, triển khai trong các chương trình hỗ trợ nông dân và đã đạt hiệu quả cao. Với thị trường xuất khẩu sầu riêng như hiện nay, huyện Đam Rông cũng đã có những mã số vùng trồng được cấp, có những doanh nghiệp đã liên kết mạnh mẽ với nông dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Đây là sự phát triển rất phù hợp” – ông Nguyễn Văn Châu chia sẻ.
BÌNH AN
Th626

Bế mạc Hội chợ trái cây và hàng nông sản tỉnh Bình Phước lần thứ 6
Nguồn tin: Báo Bình Phước
BPO – Sau 5 ngày tổ chức với nhiều hoạt động ý nghĩa, sáng nay 26-6, Ban tổ chức Hội chợ trái cây và hàng nông sản tỉnh Bình Phước lần thứ 6, năm 2023 đã tổ chức bế mạc hội chợ nhằm đánh giá kết quả hoạt động và tuyên dương các đơn vị, cá nhân có sản phẩm tiêu biểu, thành tích xuất sắc trong quá trình tham gia hội chợ.
ự lễ có Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Tuyết Minh, Trưởng Ban tổ chức hội chợ; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Trần Văn Vinh, Phó Ban tổ chức hội chợ và đại diện các sở, ban, ngành liên quan.
Các đại biểu dự tại lễ bế mạc
Theo báo cáo kết quả hoạt động, hội chợ đã đảm bảo về số lượng gian hàng tham gia, khu vực trưng bày theo đúng kế hoạch đặt ra. Công tác tổ chức tuyên truyền trước và trong hội chợ với nhiều hình thức khác nhau đảm bảo thông tin rộng rãi đến người dân. Kết quả đã thu hút trên 30 ngàn lượt người dân và du khách đến tham quan, thưởng lãm, mua sắm…
Nhằm tuyên dương và ghi nhận những đóng góp của các đơn vị, địa phương cho thành công của hội chợ năm nay, Ban tổ chức đã trao các giải: Gian hàng đẹp và trái cây ngon Bình Phước năm 2023.
Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Nguyễn Văn Giang tuyên bố bế mạc hội chợ
Cụ thể, giải gian hàng đẹp được trao cho 13 đơn vị xuất sắc nhất, gồm: 1 giải nhất, 2 giải nhì, 2 giải ba và 8 giải khuyến khích. Trong đó giải nhất thuộc về Hội Nông dân thành phố Đồng Xoài. Đối với giải trái cây ngon Bình Phước năm 2023 có 12 sản phẩm đạt giải cho 4 dòng sản phẩm: Sầu riêng, măng cụt, dưa lưới và bưởi da xanh. Trong đó, giải nhất đối với sản phẩm sầu riêng thuộc về Hội Nông dân huyện Lộc Ninh; giải nhất sản phẩm măng cụt thuộc về Hội Nông dân huyện Bù Gia Mập; Hội Nông dân huyện Lộc Ninh đoạt giải nhất về sản phẩm bưởi da xanh; và Hội Nông dân huyện Phú Riềng đoạt giải nhất về sản phẩm dưa lưới.
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban tổ chức hội chợ Trần Tuyết Minh đánh giá cao kết quả hội chợ đạt được và chỉ ra những điểm nổi bật tại hội chợ lần này
Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban tổ chức hội chợ Trần Tuyết Minh đánh giá cao kết quả đạt được và chỉ ra những điểm nổi bật tại hội chợ lần này. Với sự tham gia nhiều sản phẩm trái cây, đặc sản cũng như quy tụ nhiều sản phẩm OCOP thể hiện sự quan tâm, kỳ vọng lớn của nông dân đến lĩnh vực cây ăn trái của tỉnh. Bên cạnh đó, các hoạt động, hội thảo chuyên đề tại hội chợ đã mang lại ý nghĩa thiết thực, hữu ích và phù hợp với nông dân Bình Phước. Qua đó thể hiện được sự phát triển của hội chợ qua mỗi lần tổ chức, uy tín của sự kiện ngày càng cao.
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban tổ chức hội chợ Trần Tuyết Minh và Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh, Phó Ban tổ chức hội chợ Trần Văn Vinh trao giải cho 4 cá nhân, đơn vị đoạt giải nhất ở nội dung thi Trái cây ngon Bình Phước năm 2023
Các đơn vị, cá nhân đạt giải trái cây ngon được ban tổ chức vinh danh
Ban tổ chức đã trao giải cho các đơn vị có giải nhất, nhì và giải ba ở nội dung gian hàng đẹp
8 đơn vị đoạt giải khuyến khích ở nội dung gian hàng đẹp
Phát biểu bế mạc, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Trần Văn Vinh cho biết: Hội chợ đã để lại nhiều cảm xúc và ấn tượng tốt đẹp cho người dân, du khách trong tỉnh và các tỉnh bạn. Đồng thời tạo được ấn tượng tốt, góp phần quảng bá, tuyên truyền cho người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến nhiều hơn về thương hiệu các loại trái cây của Bình Phước nói chung và trái cây đặc trưng của từng vùng miền nói riêng.
Th620

“Quả ngọt” từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng đúng hướng ở Nam Ninh
Nguồn tin: báo Lâm Đồng
Việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn trái không chỉ nâng cao thu nhập của người dân mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội của một xã vùng xa như Nam Ninh (huyện Cát Tiên) phát triển.
Các mô hình chuyển đổi cây trồng sang trồng sầu riêng trên địa bàn xã Nam Ninh cho hiệu quả kinh tế cao
Trở lại xã Nam Ninh những ngày này, điều khiến chúng tôi ấn tượng nhất chính là những ngôi nhà mái ngói khang trang xen giữa vườn sầu riêng trĩu quả, xanh mướt mắt. Nhờ thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng đúng hướng, bức tranh kinh tế của xã Nam Ninh đã có những gam màu tươi sáng với nhiều đổi thay đáng kể.
Theo chân cán bộ Hội Nông dân xã Nam Ninh, chúng tôi đến thăm mô hình vườn mẫu trồng sầu riêng rộng chừng 1 ha của gia đình anh Đặng Văn Tuấn, thôn Mỹ Bắc, xã Nam Ninh. Thời điểm này, gia đình anh đang tất bật với các công việc chăm sóc ở các khâu cuối cùng trước khi xuất bán cho thương lái. Anh Tuấn cho biết, năm nay, sầu riêng được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc nên rất có giá. Ngoài ra, vườn sầu riêng của anh cũng được tham gia liên kết và nằm trong một mã vùng trồng được chứng nhận chung nên thương lái tranh nhau tìm đến mua từ rất sớm. Dự kiến năm nay, vườn sầu riêng của anh sẽ mang lại nguồn thu nhập trên 500 triệu đồng cho gia đình.
Anh Tuấn chia sẻ, Nam Ninh là địa phương thuần nông nghiệp, đời sống của người dân chủ yếu dựa vào cây lúa, cây điều và phát triển chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình. Mặc dù, đại đa số các hộ gia đình ở đây đều có quỹ đất canh tác lớn, tuy nhiên, do phần lớn diện tích đất được người dân canh tác là khu vực đồi núi, trước đây chỉ canh tác độc canh cây điều nên hiệu quả kinh tế mang lại rất thấp. Anh nhận thấy, so với các địa phương tương đồng về điều kiện tự nhiên như Đạ Huoai, Đạ Tẻh, người dân nơi đây đã chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn trái rất nhiều và đã thành công. Chính vì vậy, sau một thời gian tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm, năm 2017, anh Tuấn quyết định phá bỏ diện tích 1 ha điều và tiến hành cho máy múc cải tạo lại vườn cây; đồng thời, đào thêm ao để trữ tích nước phục vụ tưới tiêu.
Trên diện tích rộng 1 ha, anh Tuấn trồng hơn 200 cây sầu riêng, giống chủ yếu là Ri6 và Dona. Nhờ áp dụng thực hiện tốt các biện pháp hướng dẫn theo khoa học kỹ thuật nên vườn sầu riêng của anh Tuấn phát triển tốt, riêng năm 2022 cho thu bói nhưng đã đạt tổng thu nhập hơn 300 triệu đồng. Hiện nay, vườn sầu riêng của anh Tuấn cũng đã được UBND huyện Cát Tiên công nhận đạt chuẩn vườn mẫu; được cấp chung 1 mã số vùng trồng để phục vụ việc truy xuất nguồn gốc khi xuất khẩu.
Ông Phạm Văn Bình – Phó Chủ tịch UBND xã Nam Ninh chia sẻ, Nam Ninh là xã có địa hình khá phức tạp với các đồi núi thấp đan xen. Trước thực tế đó, cấp ủy, chính quyền xã đã nghiên cứu và căn cứ vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng để xác định các loại cây trồng chủ lực; trong đó, các loại cây ăn quả như sầu riêng, bưởi là hướng đi phù hợp. Từ đó, địa phương đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi diện tích đất canh tác kém hiệu quả sang sản xuất các loại cây trồng này. Mặt khác, từ năm 2020, cấp ủy, chính quyền xã Nam Ninh đã có chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đưa nội dung này vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đến nay, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã trở thành phong trào phát triển mạnh trên địa bàn xã.
Tính từ năm 2022 đến nay, xã Nam Ninh còn tổng diện tích cây điều là 1.071 ha, giảm 115 ha. Số diện tích này đã được người dân chuyển đổi sang các loại cây trồng như sầu riêng 41 ha, nâng tổng diện tích sầu riêng lên 60,15 ha; cam, quýt, bưởi, xoài, mít, vú sữa 4,2 ha, nâng tổng diện tích 14,55 ha; cao su 17 ha, nâng tổng diện tích 19,3 ha; cây lâm nghiệp 21,15 ha (dầu, gõ, cẩm lai, giáng hương); 10,3 ha cây nguyên liệu (tầm vông); keo 18,35 ha, nâng tổng diện tích 91,89 ha. Đối với cây sầu riêng, trên địa bàn xã Nam Ninh đã xây dựng và được cấp 6 mã số vùng trồng.
Với hiệu quả đem lại từ việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã giúp nhiều hộ dân trên địa bàn xã Nam Ninh nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Theo kết quả rà soát, dự kiến đến hết tháng 6/2023, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm xuống còn 4,42%; trong đó, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS là 5,88%. Trong thời gian đến, UBND xã Nam Ninh sẽ tiếp tục chỉ đạo Nhân dân tăng cường thăm ruộng, vườn để chủ động tuyên truyền, khuyến cáo các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; tập trung sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, từng bước hình thành liên kết, liên kết chuỗi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tái cơ cấu nông nghiệp, thích ứng biến đổi khí hậu, cải tạo vườn hộ, vườn tạp, chuyển đổi những đồi điều kém hiệu quả sang trồng điều ghép, cây trồng hiệu quả kinh tế cao, ông Bình cho biết thêm.
Th620

Nông dân Krông Năng giúp nhau làm giàu
nguồn tin: Báo đăk Lăk
Trong những năm qua, phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” đã được Hội Nông dân huyện Krông Năng triển khai hiệu quả và thu hút đông đảo hội viên tham gia.
Nhận thấy cây mắc ca phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, sinh trưởng tốt, mang lại hiệu quả kinh tế ổn định cho gia đình, năm 2012 ông Phan Thế Cửu ở thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc đã mạnh dạn chuyển đổi vườn cà phê già cỗi sang trồng mắc ca. Năm 2018, cùng với sự hỗ trợ của các cấp Hội Nông dân huyện Krông Năng, Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh Đắk Lắk, ông Cửu vận động bà con, người dân trong xã đứng ra thành lập HTX Đàn hương – Mắc ca VIP. Mọi thành viên cùng góp vốn đầu tư hệ thống dây chuyền sản xuất hiện đại, từ khâu thu hoạch cho đến đóng gói thành phẩm; xây dựng các nhà xưởng bảo quản chất lượng và đăng ký thương hiệu Mắc ca Thành Vương. Sản phẩm của HTX hiện được tiêu thụ ở các tỉnh thành trong cả nước và xuất khẩu theo đường tiểu ngạch.
HTX hiện có 14 thành viên, lợi nhuận bình quân hằng năm đạt 3,5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hàng chục lao động địa phương. Ông Phan Thế Cửu chia sẻ, hiện HTX đang làm các thủ tục để đăng ký OCOP 3 và 4 sao cho các sản phẩm mắc ca, hướng đến xuất khẩu, tăng thu nhập và phát triển bền vững cho các hộ thành viên.
Mô hình chuyên canh mắc ca của hội viên Phan Thế Cửu (bên phải).
Không chỉ riêng hộ nông dân Phan Thế Cửu và HTX Đàn hương – Mắc ca VIP ở xã Phú Lộc, nhiều năm qua, từ phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” của huyện Krông Năng đã xuất hiện đa dạng các mô hình kinh tế như: hộ gia đình, kinh tế trang trại tổng hợp, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngày càng có nhiều mô hình có quy mô sản xuất lớn, thu nhập từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi năm…
Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Krông Năng cho biết, phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” đã giúp nhiều hội viên nông dân tích cực tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ, tiếp cận kịp thời với các dịch vụ hỗ trợ, trở thành những hội viên sản xuất, kinh doanh giỏi. Hằng năm, toàn huyện Krông Năng có từ 7.400 – 8.000 hộ hội viên đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp, chiếm 88% số hộ đăng ký. Toàn huyện hiện có 51 HTX nông nghiệp, 116 trang trại đang hoạt động. Trong đó, có nhiều HTX hoạt động hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, ngành nghề và phát triển kinh tế – xã hội. Để thúc đẩy phong trào phát triển bền vững, có chiều sâu, hiện các cấp Hội Nông dân huyện Krông Năng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, trong đó tập trung chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây trồng; tăng cường tiếp cận các nguồn lực, tiến bộ khoa học – công nghệ, hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản…
Nguyễn Gia
Th814