Tin tức

Mô hình lúa – tôm “thuận thiên” đạt hiệu quả kép
Nguồn tin: báo Đồng Khởi
BDK – Mấy năm nay, nông dân tại các xã chịu ảnh hưởng bởi hạn, mặn tại huyện Thạnh Phú không ào ạt đào ao nuôi tôm công nghiệp mà phát triển mô hình lúa – tôm thích ứng biến đổi khí hậu. Mô hình “thuận thiên” này tuy lợi nhuận không cao nhưng rất bền vững và phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương.
Hợp tác xã Lúa – tôm Thạnh Phú sản xuất lúa sạch có hợp đồng bao tiêu giá ổn định với doanh nghiệp.
Phát triển bền vững
Cuối tháng 5-2023, gia đình ông Phan Văn Chí ngụ ấp An Bình (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) vẫn đang thu hoạch tôm sú quảng canh kết hợp với cua theo con nước hàng tháng. Cứ mỗi tháng 2 lần, gia đình ông xổ cống để thu hoạch tôm, cua bán được vài triệu đồng, đủ chi tiêu trong gia đình. Suốt mấy chục năm sản xuất lúa nhưng mấy năm nay ông mới thật sự an tâm với mô hình lúa – tôm theo kiểu “thuận thiên”. Trước đây, gia đình ông chỉ làm lúa 1 vụ, còn những tháng mùa nắng thì bỏ không, chẳng thu hoạch được gì. Bây giờ, toàn bộ diện tích gần 1ha được gia đình ông đào đất xung quanh để làm bờ bao và chỉ chừa phần giữa ruộng để trồng lúa, còn lại thì nuôi thủy sản.
Ông Chí cho biết: “Mô hình lúa – tôm tuy lời không nhiều nhưng bền vững do giữa con tôm, cua và cây lúa hỗ trợ cho nhau phát triển. Sau Tết khi thu hoạch lúa xong, nông dân sẽ cho nước vào để nuôi tôm sú, cua. Khi đó, nguồn rơm, rạ sẽ là thức ăn cho tôm, cua nên đỡ tốn tiền thức ăn. Đến tháng 7 hàng năm thì sẽ thu hoạch hết tôm, cua để rút nước tiếp tục sạ lúa. Cây lúa còn nguồn phân từ tôm, cua nên không cần phải tốn phân bón. Cả hai sản phẩm thủy sản và lúa đều bảo đảm sạch nên bán được giá cao hơn”.
Năm 2022, Tổ hợp tác (THT) Lúa – tôm ấp An Bình (xã An Nhơn) với 20 hộ đều có lợi nhuận từ vài chục đến hơn 100 triệu đồng nhờ mô hình này. Tổ trưởng THT Lúa – tôm ấp An Bình Phan Văn Triệu cho biết: “Năm rồi cả THT hầu hết đều có lãi từ lúa, tôm. Năm nay tới thời điểm này gia đình nào cũng thu được từ 10 – 20 triệu đồng từ bán tôm, cua theo con nước. Thấy hiệu quả, nhiều hộ dân trong ấp xin vô THT. Dự kiến năm nay THT sẽ tăng lên 30 thành viên. Khi đó, sẽ ký hợp đồng mua tôm giống, bao tiêu sản phẩm lúa với công ty, mang lại hiệu quả cao hơn”.
Bản thân gia đình ông Triệu có hơn 1,1ha đất sản xuất theo mô hình lúa-tôm năm nào cũng lợi nhuận hơn 100 triệu đồng. Ông Triệu cho biết: Nhiều hộ dân thấy nuôi tôm công nghiệp lời nhiều nên nhảy vô nuôi nhưng rất bấp bênh vì dịch bệnh, giá cả. Một số hộ thua lỗ phải bán đất, đi làm thuê. Mô hình này không lợi nhuận cao so với nuôi tôm công nghiệp nhưng được cái là bền vững. Bà con nông dân làm theo kiểu “ăn chắc, mặc bền” nên rất an tâm sản xuất.
Tại các xã khác của huyện Thạnh Phú như: Mỹ An, An Qui, An Thuận… cũng phát triển mô hình lúa tôm phù hợp với điều kiện tự nhiên tại địa phương. Năm nào cũng vậy, gia đình ông Đỗ Văn Phương (ngụ xã Mỹ An) thu hoạch lúa và sau đó thả ngay giống tôm càng xanh vào ruộng để nuôi. Diện tích 1ha, nhiều năm liền đạt lợi nhuận hơn 100 triệu đồng. Ông Phương cho biết: “Mô hình này rất phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, hạn mặn ở địa phương. Sản phẩm con tôm, hạt lúa đều sạch nên được thị trường ưa chuộng, bán được giá cao hơn. Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt như hiện nay thì mô hình này sẽ phát triển rất bền vững”.
Hướng đến sản phẩm xuất khẩu
Năm 2016, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Lúa sạch Thạnh Phú” cho 17 hộ dân thuộc THT Lúa sạch Thạnh Phú tại xã An Nhơn. Năm 2017, Hợp tác xã (HTX) Lúa – tôm Thạnh Phú được thành lập để sản xuất lúa sạch ký hợp đồng tiêu thụ với doanh nghiệp và tập trung xây dựng phát triển nhãn hiệu lúa sạch Thạnh Phú để tiếp cận các thị trường lớn. Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc HTX Lúa – tôm Thạnh Phú Hồ Văn Cương cho biết: HTX hiện có 110 thành viên chuyên sản xuất theo mô hình lúa – tôm với diện tích khoảng 80ha tại xã An Nhơn. Đối với con tôm và cây lúa đều hợp đồng cung ứng giống, bao tiêu sản phẩm nên đầu ra ổn định. Hiện tại, HTX đã ký hợp đồng với Công ty Hoa Nắng (chuyên kinh doanh lúa gạo xuất khẩu) để bao tiêu sản phẩm lúa ST25 sản xuất theo quy trình hữu cơ với giá 10.500 đồng đến 11.000 đồng/kg. Ngoài ra, thành viên còn sản xuất theo mô hình lúa sạch với các giống như: Đài Thơm 8, OM 4900, OM 6162, Nàng Keo, Tép Trắng… bán giá cao hơn thị trường 500 đồng/kg nên hiệu quả khá cao.
Hiện tại, xã An Nhơn có 1.783ha sản xuất theo mô hình lúa – tôm, với khoảng 819ha sản xuất lúa sạch. Phó chủ tịch UBND xã An Nhơn Nguyễn Hoàng Anh cho biết: Chính quyền địa phương đang hỗ trợ HTX đầu tư xây dựng kho chứa, nhà máy sấy, xay xát, đóng gói lấy tên “Gạo sạch Thạnh Phú” bán ra thị trường nhằm giúp xã viên đạt lợi nhuận cao nhất. Địa phương đang làm thủ tục để được chứng nhận sản phẩm OCOP đạt 3 sao.
Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thạnh Phú Lê Văn Tiến cho biết: Toàn huyện có khoảng 6.000ha sản xuất theo mô hình lúa – tôm. Gần đây mô hình này phát huy hiệu quả cao và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu của địa phương. Trung bình một héc-ta, nông dân thu lợi nhuận từ 70 – 100 triệu đồng/năm. Trong đó, sản phẩm lúa và thủy sản đều sạch, chất lượng cao nên không đủ để tiêu thụ. Hiện tại, HTX, THT trên địa bàn đã liên kết với các doanh nghiệp để cung ứng lúa sạch, lúa đạt chuẩn hữu cơ xuất khẩu. Trong đó, Công ty Hoa Nắng đang liên kết với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 300ha để sản xuất lúa hữu cơ xuất sang châu Âu và các nước khác.
Tỉnh luôn chú trọng nghiên cứu, ứng dụng các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn để từng bước hình thành, phát triển các mô hình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực tế, mô hình canh tác lúa chịu mặn, sản xuất lúa – tôm thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả và chứng minh được sự phát triển bền vững. |
Bài, ảnh: Thành Châu
Th603

Vườn sầu riêng OCOP trên đất Lộc Phú
Nguồn tin: báo Lâm Đồng
Làm nông nghiệp quy mô lớn, với giống chuẩn, quy trình canh tác chuẩn, cho ra những sản phẩm có chất lượng đồng đều đang là hướng đi của nhiều nông dân vùng sâu. Và, một nông hộ đang canh tác sầu riêng – giống cây ăn trái khó tính với quy mô lớn, hướng tới mục tiêu xây dựng sản phẩm OCOP.
Anh Nguyễn Ngọc Chương bên cây sầu riêng đang nở hoa
Anh Nguyễn Ngọc Chương, Thôn 4, xã Lộc Phú, huyện Bảo Lâm đang dạo thăm vườn sầu riêng đang ra hoa và bắt đầu kết trái non. Đất Lộc Phú vốn là đất chè, đất cà phê, bà con quen với hai loại cây phổ biến này từ nhiều năm. Thời gian gần đây, nông dân Lộc Phú bắt đầu trồng một số loại cây ăn trái như bơ, sầu riêng. Với gia đình anh Chương, vườn sầu riêng của gia đình có thể coi là một khởi đầu thành công.
Anh Nguyễn Ngọc Chương kể lại, năm 2017, anh quyết tâm cải tạo lại mảnh đất 6 ha trồng cà phê già cỗi của gia đình. Suy tính kỹ càng, đi tham quan, học hỏi nhiều mô hình trồng cây quanh khu vực cũng như các địa phương khác, anh Chương quyết định trục hết gốc cà phê, xuống giống trồng sầu riêng. Anh Chương xác định, đã trồng sầu riêng với quy mô lớn thì cần phải có kế hoạch canh tác khoa học ngay từ ban đầu. Bởi vậy, anh đào hố, xuống giống đồng loạt 1.200 cây sầu riêng giống Monthon từ đơn vị cung cấp giống uy tín. Đồng thời, anh áp dụng một quy trình trồng chuẩn trên toàn vườn. Anh Chương chia sẻ: “Yêu cầu của thị trường khi nông dân cung ứng số lượng lớn là chất lượng phải đồng đều, không chênh lệch. Vì vậy, tôi áp dụng quy trình canh tác đồng loạt trong vườn, đảm bảo cây lớn đều, độ cao đều và cho trái đều, đáp ứng được đòi hỏi của khách hàng”. Kết quả cho thấy, trên 1.000 gốc sầu riêng phát triển rất đều, chiều cao, cành, gốc đều đạt.
Để đạt kết quả tốt, vườn sầu riêng của gia đình anh Nguyễn Ngọc Chương được đảm bảo một chế độ chăm sóc đúng quy trình. Cây trồng đảm bảo khoảng cách 6 x 10 m, khi cây cao 4 m là “cấm” ngọn, giúp cây phát triển các cành ngang. Anh Chương làm chồi thường xuyên, tránh để cây mọc cao, vọt ngọn, năng suất vừa thấp, vừa khó thu hoạch. Toàn vườn để cỏ mọc, chỉ làm cỏ bằng cách dùng máy phát cỏ sát đất, vun vào gốc sầu riêng để giữ ẩm. Anh Chương chia sẻ: “Trồng sầu riêng phải chú ý tới bộ rễ, chăm rễ tốt thì bộ lá xanh, cây khỏe, ít bệnh. Như cây sầu riêng rất ưa phân hữu cơ, cần cung cấp một lượng phân hữu cơ lớn. Đồng thời, chú ý tới con nhện đỏ hút chích gây rụng lá. Ngoài ra, vào mùa cần dưỡng hoa, xử lý nấm thật kỹ là đảm bảo có thu hoạch tốt”.
Năm 2022, lúc vườn sầu riêng ở năm thứ 5, anh Nguyễn Ngọc Chương mới để cây ra trái bói với sản lượng 1 – 2 trái/cây. Những năm trước, khi sầu riêng ra hoa, anh đều ngắt sạch, đảm bảo cây duy trì dinh dưỡng để sinh trưởng. Vụ đầu tiên, anh thu được 30 tấn trái, giá 35 ngàn đồng/kg và thương lái vào tận vườn để thu hoạch. Vụ sầu riêng năm 2023, anh cho biết cây ra hoa rất đều, đẹp, anh dự tính thu khoảng 9 – 10 kg/gốc, tổng sản lượng khoảng 100 tấn. Mỗi cây, anh sẽ để trung bình 3 – 4 trái, đây là lượng trái rất ít, đảm bảo cây sung, khỏe. Theo anh Chương, cây sầu riêng càng nhiều tuổi, năng suất càng cao và vỏ trái càng mỏng, thịt thơm, ngọt. Những năm về sau, anh sẽ tăng dần năng suất lên theo mức độ trưởng thành của cây.
Định hướng trồng sầu riêng theo mô hình quy mô lớn, trồng cây bền vững, anh Nguyễn Ngọc Chương xác định sản phẩm sầu riêng của vườn là sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Theo anh Chương, cây sầu riêng trồng tại Lộc Phú có ưu điểm là ra hoa chậm, kết quả trễ và chín muộn. Hiện tại, khi nhiều vùng đã cho trái rộ thì Lộc Phú cây mới ra hoa, kết trái non. Trái sầu riêng sẽ chín vào khoảng giữa tháng 8 âm lịch, vào dịp Trung thu. Khi ấy, hầu hết các địa phương khác đã thu hoạch xong, đang chăm để chuẩn bị ra hoa vụ mới. Tuy nhiên, anh Chương cũng khuyến cáo bà con: “Một cây sầu riêng từ khi xuống giống tới khi ra trái bói, chi phí phải xấp xỉ 2 triệu đồng, một số tiền không nhỏ. Vì vậy, khi trồng sầu riêng, bà con cần chú ý chọn giống chuẩn, chăm sóc đúng kỹ thuật mới không gặp rủi ro”.
Ông Bùi Mạnh Hùng – Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Phú đánh giá, vườn sầu riêng của gia đình anh Nguyễn Ngọc Chương là vườn có quy mô lớn đầu tiên trong xã. Vườn được trồng bài bản, đầu tư đầy đủ và quy trình canh tác chuẩn, với sự tư vấn của các cán bộ nông nghiệp. Anh Nguyễn Ngọc Chương cũng đang phối hợp với xã Lộc Phú để xây dựng sản phẩm sầu riêng trở thành sản phẩm OCOP, góp phần xây dựng thương hiệu trái cây cho xã vùng xa của mảnh đất Bảo Lâm.
Th529

Quản lý chặt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Nguồn tin: báo Tiền Giang
Để đảm bảo việc xuất khẩu trái cây bền vững, ngành Nông nghiệp tỉnh đang triển khai các giải pháp quản lý, giám sát tình hình sử dụng mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG).
Ngành Nông nghiệp tỉnh đang triển khai các giải pháp để quản lý chặt việc sử dụng MSVT, MSCSĐG.
Thời gian qua, công tác cấp MSVT, MSCSĐG cây ăn trái phục vụ xuất khẩu rất được tỉnh chú trọng. Các ngành liên quan và địa phương đã đẩy mạnh công tác này và đạt nhiều kết quả quan trọng, thúc đẩy xuất khẩu cây ăn trái của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Tiền Giang, thời gian qua, ngành Nông nghiệp đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn quản lý chặt chẽ công tác cấp MSVT, MSCSĐG bằng nhiều hình thức như: Tập huấn, tuyên truyền sâu rộng mục đích, ý nghĩa của việc cấp mã số phục vụ xuất khẩu; chấp hành các quy định của nước nhập khẩu, sản xuất theo hướng an toàn; cách thiết lập MSVT, MSCSĐG thành phần hồ sơ minh bạch đầy đủ; kiểm tra giám sát định kỳ chặt chẽ… Tính đến thời điểm hiện tại, có 271 MSVT cây ăn trái được cấp với diện tích 20.051 ha, gồm: 70 MSVT mít, diện tích 8.519 ha; 77 MSVT thanh long, diện tích 6.090 ha; 32 MSVT xoài, diện tích 1.579 ha; 12 MSVT vú sữa, diện tích 73 ha; 05 MSVT dưa hấu, diện tích 819 ha; 03 MSVT chôm chôm, diện tích 389 ha; 02 MSVT nhãn, diện tích 121 ha; 66 MSVT sầu riêng, diện tích 2.401 ha; 04 vùng trồng bưởi, diện tích 60,35 ha và 257 MSCSĐG. Các mã số trên đảm bảo thực hiện đúng theo quy định, chưa có trường hợp phải hủy hoặc thu hồi.
Có thể nói, việc thiết lập MSVT, MSCSĐG cây ăn trái phục vụ xuất khẩu hiện là yêu cầu bắt buộc của nhiều thị trường nhập khẩu. Khi được cấp MSVT, MSCSĐG giúp nông sản xuất khẩu theo đường chính ngạch. Điều này góp phần nâng cao uy tín của nông sản Việt trên thị trường quốc tế, đặc biệt là giúp thay đổi tập quán canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo lãnh đạo Sở NN&PTNT, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả về công tác quản lý MSVT, MSCSĐG, ngành Nông nghiệp đã và đang thực hiện nhiều giải pháp trọng tâm. Theo đó, ngành Nông nghiệp sẽ tổ chức sản xuất theo hướng tập trung chuyên canh nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhập khẩu và nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến. Đồng thời, tiếp tục hỗ trợ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát duy trì các diện tích cây ăn trái đã được cấp MSVT phục vụ xuất khẩu trên địa bàn tỉnh.
Một trong những giải pháp quan trọng là thực hiện kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệp thu mua, tiêu thụ trái cây xuất khẩu và các hộ sản xuất trong vùng trồng được cấp mã số về việc tuân thủ các biện pháp như: Quản lý dịch hại, bao trái, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Ngành Nông nghiệp sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành kiểm tra, rà soát các MSVT đã cấp trên địa bàn tỉnh và có báo cáo kết quả giám sát gửi Cục Bảo vệ thực vật hủy mã số đối với vùng trồng đã chuyển sang cây trồng khác hoặc các mã số không còn hoạt động; thu hồi mã số đối với vùng trồng không tuân thủ các quy định của nước nhập khẩu về yêu cầu cấp MSVT.
Thời gian tới, ngành Nông nghiệp tỉnh sẽ tiếp tục tập huấn, tuyên truyền, hướng dẫn cho hộ sản xuất trong vùng được cấp mã số. Trọng tâm hướng dẫn nông dân áp dụng quy trình sản xuất, quản lý sâu bệnh theo hướng an toàn, sinh học, ghi chép nhật ký sản xuất và tiến hành bao trái đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Mục tiêu là tiến tới sản xuất theo hướng GAP. Ngoài ra, ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân mở rộng hoặc cấp mới MSVT cây ăn trái phục vụ xuất khẩu chính ngạch đối với các thị trường xuất khẩu. Đặc biệt là thường xuyên theo dõi, liên hệ các doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã và nông dân trong vùng được cấp mã số nhằm kịp thời hướng dẫn hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc liên quan đến vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp mã số. Đồng thời, khuyến khích nông dân mở rộng, liên kết sản xuất theo hướng tập trung chuyên canh tạo vùng sản xuất cung cấp hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp nhập khẩu và chế biến.
Anh Thư
Th523

Hợp tác xã Cẩm Sơn xây dựng vùng sầu riêng an toàn
Nguồn tin: báo Tiền Giang
Hợp tác xã (HTX) Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy) hiện quản lý gần 780 ha sầu riêng chuyên canh tại xã Cẩm Sơn, chủ yếu trồng các giống chất lượng cao có giá trị xuất khẩu lớn: Ri6, Mongthong. Nhằm phát huy lợi thế cây sầu riêng chuyên canh, đáp ứng nhu cầu thị trường, hướng đến xuất khẩu chính ngạch, giúp nông dân làm giàu và xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu thành công, HTX Cẩm Sơn tranh thủ sự hỗ trợ của địa phương và các ngành chức năng, xây dựng vùng sầu riêng an toàn theo hướng GAP, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ sức khỏe và môi sinh, môi trường.
Sầu riêng của HTX Cẩm Sơn.
Trong đó, HTX chuyển giao quy trình sản xuất sầu riêng VietGAP cho nông dân, triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), đăng ký để được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu chính ngạch sầu riêng sang thị trường Trung Quốc,… Đồng thời, liên kết với các doanh nghiệp, công ty giải quyết đầu ra ổn định cho nông sản hàng hóa chủ lực, nông dân an tâm đẩy mạnh sản xuất, thâm canh, tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sầu riêng đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ông Phạm Văn Nuôi, Giám đốc HTX Cẩm Sơn cho biết, HTX đã phối hợp với Công ty Nho Nho Cần Thơ đầu tư xây dựng vùng trồng sầu riêng VietGAP trên diện tích 10 ha với 20 hộ dân tham gia. Diện tích trên đã được chứng nhận đạt VietGAP, thời hạn có hiệu lực là 03 năm (2023 – 2025).
Trong năm 2023, được sự hỗ trợ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cai Lậy, HTX cũng xây dựng dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ sầu riêng với quy mô 30 ha vườn chuyên canh. Vừa qua, tham gia Chương trình OCOP, HTX Cẩm Sơn cũng đã có sản phẩm trái sầu riêng tươi đạt chứng nhận OCOP cấp tỉnh, hạng 4 sao. HTX Cẩm Sơn còn liên kết với doanh nghiệp đầu tư 1,5 tỷ đồng xây dựng nhà kho nhằm đáp ứng mục đích liên kết thu mua, tiêu thụ sầu riêng cho vùng chuyên canh của HTX.
Nhằm quảng bá thương hiệu sầu riêng đặc sản, HTX Cẩm Sơn tăng cường xúc tiến thương mại qua các kênh thương mại điện tử Postmart.vn, mạng xã hội Facebook; ứng dụng các phần mềm trên máy tính theo dõi việc trồng, chăm sóc và xử lý, thu hoạch trái cây đạt hiệu quả, chất lượng…
Đặc biệt, để đáp ứng điều kiện xuất khẩu chính ngạch sầu riêng sang thị trường Trung Quốc, HTX Cẩm Sơn đã lập hồ sơ đăng ký và được cấp thẩm quyền cấp 07 mã số vùng trồng xuất khẩu chính ngạch cho gần 780 ha, đạt 100% diện tích vùng chuyên canh sầu riêng.
Có được mã số vùng trồng, HTX Cẩm Sơn triển khai các bước quản lý vùng được cấp mã số vùng trồng, tuyên truyền, hướng dẫn để nông dân tuân thủ quy trình trồng, đảm bảo chất lượng nông sản khi xuất khẩu, giữ vững thương hiệu trái sầu riêng HTX Cẩm Sơn.
Theo đó, thành lập 04 tổ giám sát mã số vùng trồng ở 100% số ấp trong xã. Đồng thời, liên kết với các doanh nghiệp: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Đầu tư phát triển Vạn Hòa, Công ty TNHH Thiện Toàn, Công ty TNHH Song Toàn Phát, Công ty TNHH Trái cây Hồng Sang, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thanh Trung… tiêu thụ, xuất khẩu trái sầu riêng.
Ông Phạm Văn Nuôi, Giám đốc HTX Cẩm Sơn chia sẻ, dự kiến đến cuối năm 2023, khi địa phương bắt đầu thu hoạch rộ vụ nghịch trong năm, những lô hàng sầu riêng đầu tiên của HTX thông qua các doanh nghiệp đầu mối sẽ được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Đây là kỳ vọng chung của địa phương, HTX và bà con.
Theo ông Nguyễn Văn Út, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Cẩm Sơn, xã đã được công nhận là xã nông thôn mới, xã nông thôn mới nâng cao và theo lộ trình, đến cuối năm 2023 sẽ ra mắt xã nông thôn mới kiểu mẫu, là xã đầu tiên của huyện Cai Lậy đạt danh hiệu này. Thành tích đó có sự đóng góp to lớn và ý nghĩa của nông dân vùng chuyên canh, của HTX Cẩm Sơn trong việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng vùng trồng sầu riêng chất lượng, an toàn, khẳng định được thương hiệu và tạo sự tín nhiệm, tin cậy của thị trường nói chung.
Minh Trí
Th523

Làng quê vắng vẻ bỗng nhộn nhịp vì vườn nho lớn nhất tỉnh Trà Vinh
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
TRÀ VINH Anh Trần Văn Mến đầu tư tiền tỷ gây dựng vườn nho lớn nhất tỉnh Trà Vinh, canh tác theo hướng hữu cơ để phục vụ khách tham quan.
Mê nho quên vợ
Long Sơn là xã vùng sâu của huyện Cầu Ngang (Trà Vinh), đồng bào dân tộc Khmer chiếm hơn 50% dân số của xã. Bà con nông dân nơi đây chủ yếu trồng lúa và hoa màu trên đất giồng (đất pha cát tự nhiên).
Thời gian gần đây, làng quê vắng vẻ này bỗng nhộn nhịp hẳn vào những ngày cuối tuần, lễ, Tết bởi du khách đến tham quan vườn nho độc, lạ duy nhất tại địa phương. Nơi đây có nhiều giống nho quý như ngón tay đen, ngón tay đỏ, nho xanh Ninh Thuận, Nam Phi…
Anh Mến rất đam mê chăm sóc vườn nho. Ảnh: Hồ Thảo.
Chủ vườn nho này là anh Trần Văn Mến ở ấp Ô Răng, xã Long Sơn (huyện Cầu Ngang). Anh Mến cho biết, trong một lần cùng vợ tham quan vườn nho của một người bạn, nhìn thấy mê quá, cộng thêm máu đam mê làm nông, anh quyết định mua 5.000m2 đất để thực hiện đam mê của mình. Số tiền anh đầu tư ban đầu lên tới gần 4 tỷ đồng, gồm tiền đất, tiền thuê nhân công cải tạo, tiền mua cây giống…
“Nặng nhất là tiền cây giống, tôi mua với giá 120 nghìn đồng/cây, lúc đầu do chưa biết nhiều về kỹ thuật chăm sóc và đặc tính của cây nho nên tôi trồng đúng mùa mưa, dẫn đến cây bị úng nước chết hết một nửa. Có người thấy xót khuyên tôi bỏ cuộc, họ nói trồng nho tốn kém mà lại quá cực khổ, chắc gì có trái”, anh Mến kể.
Thất bại không nản, anh bắt đầu học hỏi thêm kinh nghiệm thông qua những người bạn ở Ninh Thuận vốn rất lành nghề trồng nho. Bên cạnh đó, anh cũng tự học hỏi, nghiên cứu rút kinh nghiệm trong quá trình thực tế. Có những hôm anh ở ngoài vườn chăm sóc cây đến quên vợ đang chờ cơm. Hàng xóm nói đùa anh mê nho hơn mê vợ. Đúng với câu nói “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, bằng sự kiên trì và ý chí quyết tâm, đến nay vườn nho của anh đã cho trái và phát triển xanh tốt.
Nho tại vườn anh Mến bán với giá từ 200 – 250 nghìn đồng/kg. Ảnh: Hồ Thảo.
Theo kinh nghiệm của anh Mến, để trồng nho đạt hiệu quả, quan trọng nhất là khâu quản lý bệnh trên cây. Người trồng nên thường xuyên thăm cây, hạn chế xử lý các loại hóa chất, chủ yếu là sử dụng những chế phẩm sinh học để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.
Đặc biệt cây nho không chịu nước nhiều, nhất là phải hạn chế làm ướt lá, thân cây nên người trồng chủ yếu tưới nước tại gốc, sử dụng phân hữu cơ vi sinh để bón giúp nho phát triển phù hợp. Giai đoạn nho cho trái, anh Mến không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chỉ dùng phân bón vi sinh và bọc trái bằng túi giấy hoặc nilon để tránh chim và côn trùng phá hoại.
Nói về lý do trồng nhiều giống nho, anh Mến cho biết để nghiên cứu và thử nghiệm nhằm chọn giống nào sai trái, chống chịu được bệnh tốt mới trồng đại trà. Anh dự định sẽ trồng thêm 8.000m2 giống nho ngón tay đen và ngón tay đỏ. Bởi giống này có đặc điểm hình dạng quả thon dài, còn nhỏ màu xanh nhưng khi chín chuyển sang màu tím đỏ, tím đen bắt mắt, không hạt, ăn giòn ngọt nên được người tiêu dùng ưa chuộng, giá thị trường khoảng 250.000 – 300.000 đồng/kg.
Trồng nho gắn với du lịch
Chị Nguyễn Thị Lan Phương ngụ tại huyện Trà Ôn (tỉnh Vĩnh Long) đến tham quan vườn nho thích thú chia sẻ: “Tôi biết đến vườn nho Long Sơn qua mạng xã hội nên đến tham quan để tìm hiểu cây nho ở ngoài như thế nào. Đến đây và ngắm những chùm nho trĩu quả, biết được chủ vườn trồng theo hướng hữu cơ sinh học nên mua về ăn tôi cũng yên tâm”.
Bên cạnh phục vụ khách tham quan, anh Mến còn thực hiện ý tưởng trồng nho trên chậu phục vụ khách có nhu cầu mua về làm cây cảnh tại nhà. Anh chăm sóc cẩn thận các chậu, dưỡng trái để bán cho ai có nhu cầu mua về vừa làm cảnh vừa có nho sạch để ăn. Anh còn sẵn sàng hướng dẫn kỹ thuật cho bà con có nhu cầu tìm hiểu để nhân rộng mô hình này.
Anh Mến cắt tỉa cành nho theo từng đợt để đảm bảo vườn có trái quanh năm phục vụ khách tham quan. Ảnh: Hồ Thảo.
Ông Kim Sophan, cán bộ nông nghiệp xã Long Sơn cho biết, anh Mến là người đam mê làm nông nghiệp nên sẵn sàng đầu tư tiền tỷ trồng nho trên vùng đất Long Sơn.
“Nông dân ở đây trồng lúa và hoa màu là chính. Qua quá trình theo dõi, đánh giá, chúng tôi thấy mô hình này làm lợi cho địa phương về mặt quảng bá, thu hút khách tham quan, tạo thêm thu nhập, phù hợp với định hướng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh. Chúng tôi hi vọng mô hình này sẽ là bước chuyển đổi trong cách làm kinh tế nông nghiệp tại địa phương”, ông Kim Sophan nói.
Th523

Sầu riêng trúng mùa, trúng giá, nông dân lãi tiền tỷ dễ như chơi
Nguồn tin: báo nông nghiệp
CẦN THƠ Vụ sầu riêng 2023, nông dân Cần Thơ phấn khởi khi giá bán tăng khoảng 10.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước, năng suất cao, chất lượng trái được đánh giá tròn và đẹp.
Nông dân huyện Phong Điền (TP Cần Thơ) tất bật thu hoạch vụ sầu riêng. Ảnh: Kim Anh
Những ngày này, nông dân trên địa bàn TP Cần Thơ đang tất bật vào vụ thu hoạch sầu riêng. Đi dọc các tuyến đường dẫn vào trung tâm xã Tân Thới, huyện Phong Điền, xe tải của các thương lái từ các nơi đổ về đây tấp nập để thu mua và vận chuyển sầu riêng đi tiêu thụ.
Một thương lái ở tỉnh Tiền Giang cho biết, từ đầu vụ sầu riêng 2023 đến nay, anh đã thu mua khoảng 5 chuyến hàng sầu riêng từ Phong Điền, trung bình mỗi chuyến xe trên 10 tấn sầu riêng.
Vị thương lái này đánh giá, hiện nay nhu cầu thu mua sầu riêng xuất khẩu tăng cao. Hơn nữa, các vườn sầu riêng ở Phong Điền năm nay được đánh giá cho trái đẹp, tròn, cơm vàng hơn và ít sâu bệnh, vì thế rất hút hàng.
Ông Trương Văn Hoa, nông dân có thâm niên trên 20 năm trong nghề trồng sầu riêng ở xã Tân Thới (huyện Phong Điền) phấn khởi cho hay, vụ sầu riêng 2023 nhờ thời tiết thuận lợi, nông dân chịu tập trung đầu tư, đặc biệt là sức mua của thị trường tốt, nhờ đó sầu riêng phát triển tốt, giá cả ổn định và có chiều hướng tăng cao so với năm trước. Hiện giá sầu riêng đang cao hơn so với cùng kỳ năm trước khoảng 10 nghìn đồng/kg, dao động ở mức 55.000 – 60.000 đồng/kg, tùy chất lượng trái.
Vụ sầu riêng 2023, nông dân TP Cần Thơ rất phấn khởi khi sầu riêng cho trái to, đẹp, năng suất cao. Ảnh: Kim Anh.
Đã qua 4 mùa vụ thu hoạch trái, ông Hoa đánh giá, vụ sầu riêng 2023 được xem là trúng mùa, bán được giá tốt, sầu riêng cho trái to, đẹp.
Ông Hoa đầu tư trồng 100 gốc sầu riêng trên quy mô 5 công đất (công 1.000m2), ước thu hoạch được khoảng 8 – 10 tấn, tăng cao so với mọi năm.
Anh Huỳnh Nhật Khánh ở xã Tân Thới rất phấn khởi khi 50% diện tích vườn sầu riêng của ông đã được thu hoạch và cho năng suất khá cao. Anh Khánh cho biết đầu vụ, giá sầu riêng có lúc rất cao, lên tới gần 100 nghìn đồng/kg. Tính toán chung cả vụ sầu riêng 2023, trên quy mô khoảng 2ha, anh Khánh trồng khoảng 480 cây sầu riêng, trung bình mỗi cây anh thu lợi nhuận khoảng 4 triệu đồng, tổng lợi nhuận gia đình thu về trên 1,9 tỷ đồng.
“Vụ sầu riêng năm nay trúng mùa, bán được giá tốt, thương lái ở tỉnh Tiền Giang tìm về mua rất nhiều. Hơn nữa, năng suất trúng gấp đôi năm rồi, nông dân ở đây quá phấn khởi”, anh Khánh vui mừng chia sẻ.
Hiện giá sầu riêng tại TP Cần Thơ dao động từ 55.000 – 60.000 đồng/kg, tùy chất lượng trái, cao hơn so với cùng kỳ năm trước khoảng 10.000 đồng/kg. Ảnh: Kim Anh.
Một mùa vụ sầu riêng thuận lợi đã mở ra nhiều triển vọng cho bà con nông dân trồng sầu riêng ở TP Cần Thơ nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung. Tuy nhiên, theo nông dân Huỳnh Nhật Khánh, hiện nay việc thực hiện liên kết giữa nhà vườn với các hợp tác xã và doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Một phần do tâm lý sợ khó khăn trong việc thỏa thuận giá cả nên bà con vẫn muốn giữ cách mua bán truyền thống thông qua thương lái có nhu cầu. Một phần nông dân trong vùng chưa nắm được cách thức tham gia liên kết cũng như định hướng phát triển xa hơn đối với mặt hàng sầu riêng.
Thương lái ở khắp nơi đổ về huyện Phong Điền, TP Cần Thơ thu mua, vận chuyển sầu riêng đi tiêu thụ. Ảnh: Kim Anh.
“Thời gian tới, tôi mong việc liên kết giữa nông dân với hợp tác xã và doanh nghiệp trong việc xây dựng mã số vùng trồng để xuất khẩu sầu riêng sang thị trường Trung Quốc sẽ trở nên thuận lợi hơn, đảm bảo cho cây sầu riêng có điều kiện phát triển bền vững và ggắn bó lâu dài với bà con”, nông dân Trương Văn Hoa, người có thâm niên trên 20 năm trong nghề trồng sầu riêng ở xã Tân Thới (huyện Phong Điền) mong muốn.
Th520

Xây dựng vùng nguyên liệu cây ăn quả ở Đồng Tháp Mười
Nguồn tin: Báo Long An
Thời gian qua, việc chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác ở vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) của tỉnh Long An đã và đang cho thấy kết quả tích cực.
Th520

Nông dân Di Linh chủ động nâng cao chất lượng cây cà phê
Nguồn tin: báo Lâm Đồng
Di Linh được xem là “thủ phủ” cà phê của Lâm Đồng. Nhãn hiệu “Cà phê Di Linh” được Cục Sở hữu trí tuệ chứng nhận. Tuy nhiên, việc sản xuất cà phê gặp những khó khăn nhất định như quy trình trồng và chăm bón chưa đồng bộ, chưa khoa học, chưa phân loại cà phê, sản phẩm chủ yếu là cà phê xô nên giá thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao… Trước thực trạng đó, thời gian qua, những người trồng cà phê ở huyện Di Linh đã áp dụng nhiều giải pháp mới góp phần nâng cao chất lượng cây cà phê.ư
Bên cạnh sản xuất hữu cơ, việc nông dân thu hoạch chọn lọc 100% quả chín để sơ chế, chế biến đã góp phần nâng cao chất lượng cà phê Di Linh
Ông Vũ Hồng Long – Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Di Linh, cho biết: Định hướng phát triển ngành Nông nghiệp huyện Di Linh hướng đến là trung tâm sản xuất cà phê và cây ăn quả của tỉnh và cà phê vẫn là cây trồng trung tâm. Theo đó, Di Linh tập trung làm tốt việc tái canh, cải tạo nâng cao năng suất, chất lượng trên diện tích cà phê hiện có. Hiện nay, bình quân hàng năm người dân trên địa bàn trồng tái canh, ghép cải tạo 1.800 ha cà phê kém chất lượng. Mục tiêu đặt ra đến năm 2025, Di Linh sẽ tăng năng suất cho khoảng 6.617 ha cà phê hiện kém hiệu quả, năng suất thấp trên toàn huyện.
Bên cạnh định hướng của địa phương, nông dân Di Linh cũng đã chủ động thích ứng và có những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cà phê. Đơn cử, tại xã Tân Nghĩa, gia đình ông Bùi Trung Đảng vừa có vụ cà phê bội thu với năng suất trên 4 tấn nhân/ha. Ông Đảng cho biết, gia đình trồng 1,5 ha cà phê từ năm 1994 và đến khoảng năm 2017 thì cây trong vườn bước vào giai đoạn già cỗi, năng suất kém. Trước tình hình đó, gia đình ông đã thực hiện tái canh với nguồn giống chất lượng cao, có sức kháng bệnh tốt do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông – Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) chuyển giao. Bên cạnh đó, nông dân Bùi Trung Đảng cũng đã nghiên cứu thực hiện quy trình canh tác theo tiêu chuẩn mà ngành Nông nghiệp huyện Di Linh đã khuyến cáo và hướng dẫn. Cụ thể, gia đình ông Đảng đã loại bỏ lứa cà phê già cỗi, kém chất lượng, sau đó thực hiện các biện pháp cải tạo đất, khử mầm bệnh trong đất theo trình tự và thời gian quy định. Khi đất sạch mầm bệnh, gia đình mới tiến hành đặt giống. “Với cách làm khoa học này, tỉ lệ cây sống đạt đến 98% và rất đồng đều. Nhờ vậy nên sau 3 năm tái canh, cà phê bắt đầu cho thu bói và đến năm thứ 4 thì chính thức cho kinh doanh với năng suất trên 4 tấn nhân/ha”, nông dân Bùi Trung Đảng phấn khởi chia sẻ.
Để nâng cao giá trị cho sản phẩm cà phê và góp phần bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, nhiều hộ dân, hợp tác xã sản xuất cà phê trên địa bàn Di Linh đã chọn hướng sản xuất cà phê hữu cơ.
Ông Trịnh Tấn Vinh, nông dân sản xuất cà phê tại xã Đinh Lạc chia sẻ, gia đình ông đã chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống qua sản xuất hữu cơ từ năm 2008. Hiện nay, trên diện tích cà phê của ông Vinh phát triển lớp thảm thực vật bằng cỏ lá đậu để giữ độ ẩm và tạo hệ sinh thái nền vườn. Ở phía trên, ông Vinh trồng mắc ca, sầu riêng làm cây che bóng kết hợp phát triển kinh tế. Để đảm bảo sự sinh trưởng cho cây, gia đình ông Vinh đã sử dụng phân bón hữu cơ tự ủ hoặc phân bón vi sinh. Trường hợp cây bị nhiễm sâu, bệnh hại, ông sẽ thực hiện biện pháp phòng ngừa bằng các chế phẩm sinh học…
Ông Trịnh Tấn Vinh cho biết, mô hình cà phê hữu cơ giúp gia đình tiết kiệm từ 25 – 30% chi phí về nhân công diệt cỏ, thuốc trừ cỏ so với cách làm thông thường; giảm 40% chi phí phân bón, chi phí vận hành tưới. Với quy trình nông nghiệp hữu cơ, vườn cà phê của gia đình ông Trịnh Tấn Vinh sinh trưởng tốt, năng suất đạt 4 tấn nhân/ha.
Cùng với việc chăm sóc theo quy trình chuẩn hữu cơ, gia đình ông Vinh còn thực hiện thu hoạch chọn lọc 100% quả chín để sơ chế, chế biến. Ông Vinh cho biết, với quy trình hiện tại, mỗi năm, gia đình ông sản xuất và cung ứng ra thị trường trong, ngoài nước trên 1 tấn cà phê honey hữu cơ thành phẩm và trên 2 tấn cà phê bột hữu cơ thông thường. Nhờ cách làm này nên sản phẩm cà phê của gia đình ông có giá bán cao hơn nhiều lần so với cà phê thông thường.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang là hướng đi được nhiều nông hộ lựa chọn. Và ở xã Hòa Bắc đã hình thành Tổ hợp tác cà phê hữu cơ với diện tích sản xuất 5,6 ha. Tại đây, các thành viên của nhóm tập trung thực hiện vùng đệm, phát triển mô hình theo các tiêu chuẩn như không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, không phân bón hóa học. Để cà phê phát triển tốt, các thành viên Tổ hợp tác cà phê hữu cơ đã tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp để ủ và làm phân bón. Người dân cũng trồng chuối và tận dụng thân chuối đắp gốc cà phê tạo độ ẩm, nuôi dưỡng hệ vi sinh để cải tạo đất. Ông Đỗ Duy Tùng, Tổ trưởng Tổ hợp tác cà phê hữu cơ xã Hòa Bắc cho biết thêm, hiện nay, toàn bộ diện tích cà phê của tổ hợp tác đạt tiêu chuẩn hữu cơ quốc gia TCVN. Sản phẩm cà phê của tổ đạt chất lượng nên tăng được khả năng cạnh tranh và có giá bán cao hơn trên thị trường.
Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Di Linh chia sẻ thêm: Địa phương phấn đấu đến năm 2025 trên 40% diện tích cà phê đạt điều kiện thâm canh cao, năng suất ổn định 40 tạ/ha trở lên, kết hợp với trồng xen các loại cây trồng khác tăng nguồn thu cho bà con nông dân, tạo đà cho kế hoạch đột phá tăng tốc về kinh tế của huyện.
Ghi nhận tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích cà phê của địa phương hiện đứng thứ 2 cả nước (sau Đắk Lắk) với khoảng gần 176 nghìn ha. Trong đó, cà phê được trồng nhiều nhất tại huyện Di Linh với khoảng 45,6 nghìn ha. Năng suất cà phê trong tỉnh bình quân khoảng 35,5 tạ/ha, tổng sản lượng khoảng trên 600 nghìn tấn. Hiện nay, các sản phẩm cà phê nhân, cà phê rang xay của tỉnh Lâm Đồng đang được xuất khẩu qua thị trường quen thuộc ở các nước châu Âu như: Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia…, các thị trường châu Á như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia… Năm 2022, sản lượng cà phê nhân xuất khẩu của tỉnh đạt trên 90 ngàn tấn với giá trị đạt trên 180 triệu USD.
Ông Nguyễn Văn Châu, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng cho biết, hiện nay, tỉnh Lâm Đồng đang thực hiện đề án nông nghiệp hữu cơ, hướng đến nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn. Đối với lĩnh vực cà phê, đây là một trong những cây trồng chủ lực của địa phương nên tỉnh tập trung xây dựng các mô hình bền vững, đưa các loại giống tốt vào sản xuất với các quy trình khoa học. Địa phương khuyến khích người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển cà phê đặc sản, cà phê chất lượng cao, đặc biệt, tập trung vào chế biến để tăng giá trị sản phẩm.
Th520

Trồng vải thiều chuẩn an toàn, ‘cháy hàng’ ngay tại vườn, giá 40.000 đồng/kg
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
BẮC GIANG Cùng với mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, huyện Lục Ngạn quản lý chặt các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu vải thiều năm 2023.
Canh tác an toàn, nông dân lợi đủ đường
Năm 2023, để chủ động trước sự biến đổi liên tục của thị trường và nâng cao giá trị sản xuất, ngay từ đầu vụ, các hợp tác xã (HTX), tổ sản xuất, chủ vườn vải trên địa bàn huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) đã tích cực mở rộng vùng sản xuất vải theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ nhằm tạo sản phẩm chất lượng phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Theo anh Ngô Văn Liên, Giám đốc HTX nông nghiệp Thanh Hải (thôn Cầu Đền, xã Thanh Hải, Lục Ngạn, Bắc Giang), sản xuất vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP đòi hỏi các chủ vườn phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu mà phía thị trường nhập khẩu đưa ra. Ảnh: Trung Quân.
Anh Ngô Văn Liên, Giám đốc HTX nông nghiệp Thanh Hải, thôn Cầu Đền, xã Thanh Hải (Lục Ngạn, Bắc Giang) cho biết: Tổng diện tích vải của HTX bao gồm cả liên kết sản xuất là 50ha. Trong đó, 10ha được cấp chứng nhận GlobalGAP và xuất khẩu đi thị trường Nhật Bản, các diện tích còn lại đều được cấp chứng nhận VietGAP. Tổng sản lượng vải trung bình hàng năm của HTX khoảng 400 – 500 tấn.
Theo anh Liên, khi sản xuất vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP, các chủ vườn phải tuân thủ nghiêm ngặt, đáp ứng các điều kiện của các thị trường xuất khẩu như: Chỉ sử dụng những loại thuốc BVTV có trong danh mục cho phép, đúng liều lượng, dừng việc phun thuốc BVTV trước khi thu hoạch khoảng 15 ngày để đảm bảo đủ thời gian cách ly theo quy định; kỹ thuật chăm sóc thống nhất, có nhật ký ghi chép lại toàn bộ quá trình sản xuất…
Anh Liên cũng cho rằng, cái lợi lớn nhất khi canh tác vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP là người trồng giảm được nhiều chi phí về phân bón, thuốc BVTV. Bởi lẽ, việc phun thuốc có thời điểm, theo đợt, có nhật ký nên không còn tình trạng phun tràn lan theo kinh nghiệm như trước đây, vừa tốn kém, vừa không hiệu quả.
Bên cạnh đó, quá trình chăm sóc cây, các chủ vườn sẽ tăng dần tỷ lệ phân bón hữu cơ, giảm dần tỷ lệ phân bón hóa học, tận dụng chất thải từ chăn nuôi, lá cây, cỏ… ngâm ủ với men vi sinh để làm phân bón hữu cơ.
Nhật Bản được đánh giá là thị trường có yêu cầu khắt khe nhất về chất lượng quả vải, do đó, khi sản phẩm được thị trường này chấp nhận, việc đảm bảo các tiêu chuẩn của những thị trường khác cũng sẽ trở nên thuận lợi hơn.
Ông Vũ Văn Mến, Tổ trưởng Tổ liên kết sản xuất vải hữu cơ thôn Đồng Giao 2, xã Quý Sơn (Lục Ngạn) chăm sóc vườn vải sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ. Ảnh: Hoàng Anh.
“Khi canh tác vải theo tiêu chuẩn an toàn, không chỉ giúp người trồng tiết kiệm chi phí sản xuất mà giá bán sản phẩm cũng cao hơn so với sản xuất thông thường. Minh chứng là trong vụ vải 2022, giá bán vải xuất khẩu dao động từ 35.000 – 37.000 đồng/kg, trong khi vải thông thường chỉ 15.000 – 17.000 đồng/kg. Có những vườn nhờ tuân thủ đúng các yêu cầu kỹ thuật nên chỉ cần bán cho khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm tại vườn đã “cháy hàng” với giá luôn ở mức cao (40.000 đồng/kg)”, anh Liên cho hay.
Đang tất bật dọn vườn, chăm sóc vườn vải hữu cơ phục vụ xuất khẩu năm 2023, ông Vũ Văn Mến, Tổ trưởng Tổ liên kết sản xuất vải hữu cơ thôn Đồng Giao 2, xã Quý Sơn (Lục Ngạn) vui vẻ chia sẻ: Tổ sản xuất có 9 hộ tham gia với diện tích 10ha.
Năm 2021, khi canh tác vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP, các thành viên của Tổ đã xuất khẩu được 20 tấn đi thị trường Nhật Bản. Năm 2022, từ diện tích này, HTX chuyển sang canh tác vải theo hướng hữu cơ và ngay lập tức đã giành được thắng lợi khi xuất khẩu được 20 tấn đi thị trường Nhật Bản và 20 tấn đi thị trường châu Âu.
Theo ông Mến, canh tác theo tiêu chuẩn GlobalGAP đã khó, canh tác hữu cơ còn khó hơn. Bởi lẽ, khi canh tác hữu cơ, người trồng chỉ sử dụng chế phẩm thảo mộc để phòng trừ sâu bệnh hại nên số lần phun phòng phải tăng lên. Bên cạnh đó, vườn trồng sử dụng hoàn toàn bằng phân bón hữu cơ nên trong thời gian đầu phải luôn duy trì được độ ẩm thì phân bón mới phát huy được hiệu quả. Do đó, số lần bơm nước, tưới cây, chăm sóc cũng sẽ nhiều hơn so với canh tác thông thường.
Lục Ngạn đang mở rộng xây dựng các vùng trồng vải theo tiêu chuẩn GAP và hữu cơ để phục vụ các thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao. Ảnh: Trung Quân.
“Ban đầu, các thành viên ai cũng lo lắng vì không biết canh tác theo phương pháp mới thì hình thức, chất lượng quả vải có bị ảnh hưởng, doanh nghiệp có thu mua không? Chế phẩm thảo mộc có bảo vệ được quả vải trước sâu đục cuống quả hay không…? Trong khi đó, tổng chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ nếu tính chi ly thì cao hơn gấp đôi so với sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP và gấp 3 lần so với sản xuất thông thường”, ông Mến bộc bạch.
Ông Mến cho rằng, việc sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn là xu thế chung của toàn thế giới. Do đó, nếu các nhà vườn kiên trì, nghiêm túc trong quá trình thực hiện các yêu cầu, tiêu chuẩn thì chắc chắn sản phẩm sẽ xây dựng được thương hiệu, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Lúc này, các đầu mối tiêu thụ tất yếu sẽ tự tìm đến, sản phẩm có cơ hội đi vào những thị trường lớn, giá bán, lợi nhuận của người trồng cũng nhờ đó tăng lên.
“Trước mắt, Tổ sản xuất dự kiến sẽ thu hoạch vụ vải năm nay khoảng từ ngày 5 – 20/6, sản lượng ước đạt khoảng 60 – 70 tấn. Tổ sản xuất đặt mục tiêu sang năm 2024 sẽ được cấp chứng nhận hữu cơ”, ông Mến thông tin.
Theo ông Lưu Anh Đức, Trưởng phòng NN-PTNT Lục Ngạn, quy trình kiểm tra, giám sát chất lượng các vườn vải phục vụ xuất khẩu được thực hiện rất nghiêm ngặt. Định kỳ 1 – 2 tuần, cán bộ chuyên môn sẽ tiến hành kiểm tra quy trình và tra nhật ký sản xuất của các vườn để kịp thời hướng dẫn, bổ sung phương pháp chăm sóc phù hợp. Bên cạnh đó, khuyến khích các hộ tự kiểm tra, giám sát, nhắc nhở lẫn nhau thực hiện nghiêm túc các yêu cầu từ phía các cơ quan chuyên môn và thị trường nhập khẩu.
Quản chặt mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Theo UBND huyện Lục Ngạn, năm 2023, diện tích trồng vải toàn huyện hơn 17.300ha, sản lượng khoảng 97.600 tấn. Trong đó, diện tích vải sớm hơn 3.900ha (sản lượng 25.000 tấn), vải chính vụ hơn 13.300ha (sản lượng 72.600 tấn).
Huyện cũng đặt mục tiêu diện tích sản xuất vải theo tiêu chuẩn VietGAP 13.200ha, sản lượng khoảng 81.300 tấn; xây dựng mô hình sản xuất vải theo tiêu chuẩn hữu cơ quy mô 20ha, thực hiện tại 3 xã, dự kiến sản lượng 125 tấn.
Huyện duy trì 84 mã số vùng trồng (MSVT) với diện tích hơn 11.800ha (Trung Quốc 35 mã; Mỹ, Australlia, EU 15 mã; Nhật Bản 32 mã; Thái Lan 2 mã); quản lý chặt chẽ và duy trì 173 mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) đủ điều kiện xuất khẩu.
Huyện Lục Ngạn triển khai nhiều giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ các mã số vùng trồng. Ảnh: Hoàng Anh.
Theo ông Lưu Anh Đức, Trưởng phòng NN-PTNT Lục Ngạn, để hoàn thành được các mục tiêu này, UBND huyện Lục Ngạn đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ việc cấp, quản lý các MSVT, mã số CSĐG. Trong đó, tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn của tỉnh giám sát, cấp mới MSVT, mã số CSĐG và số hoá vùng trồng.
Đối với MSVT và mã số CSĐG đã được cấp, thường xuyên rà soát, đánh giá và quản lý chặt chẽ, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của nước nhập khẩu và các quy định của pháp luật hiện hành. Đồng thời, giám sát việc sử dụng thuốc BVTV, nhật ký đồng ruộng; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng mã số CSĐG, bao bì, tem nhãn cũng như các điều kiện theo tiêu chuẩn cơ sở TCCS 775:2020/BVTV và các văn bản chỉ đạo của cơ quan chuyên môn.
Huyện yêu cầu các chủ thể tuyệt đối không được tự ý cho mượn, trao đổi, dùng chung MSVT, mã số CSĐG trong quá trình xuất khẩu để đảm bảo truy xuất nguồn gốc; xử lý nghiêm các trường hợp cho mượn hoặc tự ý sử dụng MSVT khác không đúng mục đích theo quy định.
Đối với các MSVT và mã số CSĐG đăng ký chuẩn bị cấp, tiếp tục rà soát lại toàn bộ các CSĐG trên địa bàn huyện, chỉ giữ lại các CSĐG đủ điều kiện xuất khẩu. Chỉ đạo, hướng dẫn các MSVT và các CSĐG quả tươi chuẩn bị đầy đủ các điều kiện khi Hải quan Trung Quốc kiểm tra trực tuyến hoặc trực tiếp.
Trong công tác tổ chức sản xuất, huyện Lục Ngạn thành lập các tổ chỉ đạo sản xuất vải thiều cấp huyện, cấp xã và tổ kiểm tra, hướng dẫn công tác chuẩn bị các điều kiện phục vụ kiểm tra, giám sát MSVT và mã số CSĐG quả vải tươi xuất khẩu sang Trung Quốc; phối hợp giữa các tổ để chỉ đạo, hướng dẫn người dân sản xuất vải đáp ứng các yêu cầu về số lượng và chất lượng cho thị trường trong nước và xuất khẩu…
Th516

Sầu riêng rụng quả do thời tiết bất thường
Nguồn tin: Báo Gia Lai
(GLO)- Những ngày gần đây, nhiều vườn sầu riêng trên địa bàn tỉnh Gia Lai bị rụng hoa, quả non hàng loạt. Theo ngành chức năng, nguyên nhân là do thời tiết bất thường, người dân chưa biết cách xử lý.
Những năm trước, vào thời điểm này, vườn sầu riêng của bà Phạm Thị Na (làng Ia Lôk, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh) lúc lỉu quả non. Tuy nhiên, năm nay, nhiều cây không có quả hoặc chỉ lác đác vài quả trên cây.
Bà cho biết: Đầu tháng 4, khi sầu riêng đang độ ra hoa, đậu quả non thì gặp cơn mưa lớn khiến hoa rụng rất nhiều. Tiếp đến là nắng nóng gay gắt kéo dài hơn 3 tuần khiến quả non tiếp tục rụng. “Vườn sầu riêng của gia đình tôi có 400 cây thì hơn 100 cây bị rụng hoa, quả non”-bà Na nói.
Vườn sầu riêng của gia đình ông Lê Anh Đàn (thôn 1, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh) bị rụng hoa, quả non hàng loạt. Ảnh: S.P
Tương tự, vườn sầu riêng gần 200 cây của ông Lê Anh Đàn (thôn 1, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh) cũng đang bị rụng hoa, quả non hàng loạt. Ông cho hay: Thời điểm cây sầu riêng ra hoa thì gặp phải đợt mưa kéo dài khiến cho hoa bị hư hại, dẫn đến không đậu quả. Ngoài ra, trên địa bàn còn xuất hiện một số cơn mưa bất thường giữa những ngày nắng nóng cũng khiến sầu riêng bị rụng hoa, quả non rất nhiều. “Vụ sầu riêng năm nay không những năng suất chỉ bằng 1/3 năm ngoái mà khả năng khó thu hồi được vốn đầu tư chăm sóc”-ông Đàn buồn rầu nói.
Với 50 cây sầu riêng, gia đình ông Phạm Văn Khoa (thôn 4, xã Ia Tô, huyện Ia Grai) thu được hơn 7 tấn quả/năm, mang lại lợi nhuận hàng trăm triệu đồng. Năm nay, quả non rụng liên tục, thậm chí có những quả hơn 1 kg vẫn bị rụng. “Nhìn quả non rụng đầy đất mà xót cả ruột. Chỉ riêng khoản chi phí đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho vườn cây, gia đình đã mất hơn 40 triệu đồng”-ông Khoa ngậm ngùi.
Huyện Ia Grai có hơn 600 ha sầu riêng, trong đó, diện tích cho thu hoạch gần 450 ha. Theo ông Phan Đình Thắm-Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, vừa qua, trên địa bàn huyện đang nắng nóng thì xuất hiện một số cơn mưa lớn làm cây trồng sốc nhiệt. Ngoài ra, mưa kèm gió lớn khiến nhiều vườn cây bị rụng quả.
“Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đã cử cán bộ xuống các xã, thị trấn phối hợp thống kê những diện tích sầu riêng bị hại do thời tiết. Đồng thời, chúng tôi tập trung tìm hiểu sâu về những biện pháp khắc phục tình trạng sầu riêng bị rụng hoa, quả non để hướng dẫn cho người dân nâng cao hiệu quả canh tác. Sầu riêng là một trong những loại trái cây đặc sản nên quy trình trồng và chăm sóc rất khó. Do đó, người dân không nên ồ ạt tăng diện tích khi chưa nắm vững kỹ thuật”-ông Thắm khuyến cáo.
Vườn sầu riêng của gia đình ông Phạm Văn Khoa (thôn 4, xã Ia Tô, huyện Ia Grai) có nhiều quả non rụng liên tục, không thể kiểm soát được. Ảnh: Sang Phương
Theo ông Võ Văn Tấn-Giám đốc Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Chư Păh: Toàn huyện có 753 ha sầu riêng, trong đó có hơn 160 ha trong thời kỳ thu hoạch. Do ảnh hưởng bởi thời tiết trong thời gian qua nên nhiều vườn sầu riêng bị rụng hoa, quả non gần 20%.
“Để giúp vườn cây phục hồi và giảm tỷ lệ rụng hoa, quả non, chúng tôi khuyến cáo bà con sử dụng phân bón trung vi lượng. Nếu gặp mưa nhiều cần sử dụng một số biện pháp phòng trừ nấm bệnh do mưa gây ra, ngoài việc đề phòng bệnh còn giúp cây nhanh phục hồi. Cùng với đó là sử dụng cây gỗ, đòn chằng chống kịp thời khi mưa kèm gió lớn nhằm hạn chế ngã đổ. Đồng thời, hạn chế việc mở rộng diện tích trồng sầu riêng, tránh nguy cơ gặp rủi ro giảm giá do cung vượt cầu”-ông Tấn cho hay.
Huyện Chư Sê có 500 ha sầu riêng, trong đó, khoảng 300 ha trong thời kỳ kinh doanh. Năm nay, tình hình thời tiết diễn biến bất thường đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sầu riêng. Ông Nguyễn Văn Hợp-Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện-cho biết: Qua nắm bắt sơ bộ, năng suất sầu riêng năm nay giảm so với năm trước, người dân cũng không tránh khỏi nguy cơ mất mùa. Hiện các xã, thị trấn chưa thống kê đầy đủ thiệt hại do các vườn sầu riêng vẫn tiếp tục rụng quả.
“Trước tình hình thời tiết diễn biến bất lợi, chúng tôi phối hợp với UBND các xã, thị trấn tuyên truyền, hướng dẫn người dân tập trung chăm sóc vườn sầu riêng cho đến khi thu hoạch. Cùng với đó, vận động người dân phòng trừ các loại bệnh trên cây sầu riêng để đảm bảo năng suất”-ông Hợp thông tin.
Th603