Tin tức

Nông dân Vĩnh Châu sẵn sàng vụ hành tím sớm bán Tết
Nguồn tin: Báo Sóc Trăng
Thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng) là địa phương có diện tích và sản lượng hành tím lớn nhất tỉnh Sóc Trăng. Hiện tại, nông dân trên địa bàn đã đẩy mạnh gieo trồng vụ hành tím sớm với kỳ vọng trúng mùa, bán được giá dịp tết Nguyên đán năm 2024.
Năm nay, ông Ngô Văn Lý, ngụ Phường 2 sử dụng một phần đất rẫy để trồng vụ hành sớm bán đón Tết 2024. Là người có nhiều năm kinh nghiệm trồng hành nên hằng năm năng suất thu hoạch của gia đình ông luôn ở mức cao. “Vụ hành tím năm rồi năng suất bình quân 1,5 – 2 tấn/1.000m2, giá bán từ 30.000 – 35.000 đồng/kg nên gia đình vô cùng phấn khởi. Năm nay, bước đầu tôi thấy thời tiết khá thuận lợi, trời ít mưa, đất khô ráo, cây hành ít sâu bệnh và phát triển nhanh. Tôi rất hy vọng có vụ hành bội thu và có giá cao để đón Tết thật trọn vẹn” – ông Lý cho biết.
Năm nào cũng vậy, gia đình ông Nguyễn Văn Phấn, ngụ Phường 2 cũng dành riêng 1.000m2 đất rẫy để trồng hành bán Tết. Ông Phấn chia sẻ: “Giống hành gia đình trồng tương đối ngắn ngày, dự kiến thời điểm thu hoạch vào khoảng giữa tháng 12/2023 (âm lịch), sẽ kịp bán phục vụ Tết. Năm vừa qua, với 1 công đất trồng hành dù đã có sự chuẩn bị rất kỹ, nhưng gặp mưa dầm làm giảm năng suất, ngoài ra còn do bệnh hại đã làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Năm nay thời tiết đầu vụ thuận lợi, tôi hy vọng từ nay đến ngày thu hoạch, rẫy hành sẽ phát triển tốt, có năng suất cao, giá ổn định”.
Nông dân ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng hành tím qua mô hình trồng trong nhà lưới. Ảnh: PHƯỚC LIÊU
Không chỉ trồng hành kiểu truyền thống, năm nay ông Thạch Soal, ngụ xã Vĩnh Hải còn mạnh dạn đổi mới khi dành riêng khoảng 1.000m2 đất để làm mô hình trồng trong nhà lưới. Hiện tại, hành tím của gia đình ông trồng được hơn 1 tháng và phát triển tốt. Ông Thạch Soal cho biết: “Qua theo dõi 2 phương pháp trồng này, tôi nhận thấy có sự khác biệt. Đối với 1.000m2 hành trồng trong nhà lưới thấy ít sâu hại, ít sử dụng phân, thuốc. Riêng 2.000m2 được trồng theo truyền thống, tuy chi phí có cao nhưng không nhiều, một phần có thể nhờ thời tiết năm nay cũng “ủng hộ” nông dân”.
Theo đồng chí Mã Chí Thọ – Trưởng Phòng Kinh tế thị xã Vĩnh Châu, trong vụ hành tím năm 2023 – 2024, trên địa bàn thị xã dự kiến xuống giống khoảng 5.000 hécta; trong đó diện tích hành tím sớm có khoảng 1.300 hécta, hành chính vụ khoảng 3.700 hécta. Vào thời điểm giữa tháng 11/2023, giá bán hành tím thương phẩm được thương lái thu mua khoảng 40.000 – 50.000 đồng/kg, với mức giá này thì người trồng hành đảm bảo có được lợi nhuận sau khi trừ các khoản chi phí sản xuất. Đến thời điểm này, giá đã giảm so với trước. Ngành nông nghiệp cũng đã khuyến cáo nông dân xuống giống rải vụ, từ đó sản lượng thu hoạch được rải đều, không tập trung vào cùng một thời điểm như các năm trước, điều này sẽ giúp việc tiêu thụ hành tím trên thị trường tương đối ổn định. Bên cạnh đó, chính quyền và ngành chức năng thị xã Vĩnh Châu luôn nỗ lực trong việc tìm đầu ra cho nông sản hành tím thông qua việc liên kết với các doanh nghiệp, đơn vị, công ty, chuỗi siêu thị cả trong và ngoài tỉnh để tránh tình trạng tồn đọng hành tím vào thời điểm thu hoạch rộ.
Hằng năm, trên địa bàn thị xã Vĩnh Châu có 3 đợt trồng hành, gồm vụ hành sớm, hành chính vụ và vụ hành giống. Để giúp cho nông dân gia tăng giá trị kinh tế từ củ hành tím, ngay từ đầu vụ hành năm nay, ngành Nông nghiệp thị xã đã chủ động phối hợp với sở, ngành tỉnh đẩy mạnh việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân trong khâu sản xuất, nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi của yếu tố thời tiết. Đồng thời, xây dựng các mô hình trồng hành đạt hiệu quả cao như trồng hành tím trong nhà lưới, trồng theo hướng dùng phân bón hữu cơ. Qua đó, giúp giảm chi phí đầu tư và đảm bảo được khâu tiêu thụ ổn định, giúp cho nông dân tăng được lợi nhuận.
PHƯỚC LIÊU
Th103

Kết nối giao thương các sản phẩm hoa, kiểng
Nguồn tin: báo Đồng Tháp
ĐTO – Tiếp tục chuỗi các hoạt động Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc lần thứ I năm 2023, chiều ngày 31/12, tại Trung tâm Thương mại Hoa – Kiểng Đồng Tháp, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị kết nối giao thương các sản phẩm Hoa – Kiểng.
Quang cảnh hội nghị
Dự hội nghị có ông Lê Minh Hoan – Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; ông Phạm Thiện Nghĩa – Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp.
Theo UBND tỉnh Đồng Tháp, Làng hoa Sa Đéc ngày càng mở rộng, với đa dạng chủng loại, cung cấp sản phẩm các mùa trong năm. Đặc biệt, hoa, kiểng không chỉ phục vụ sản xuất, kinh doanh mà còn phát triển thêm loại hình du lịch nông nghiệp, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chụp ảnh. Thời gian tới, cùng với các lễ hội khác, tỉnh tiếp tục tổ chức Festival Hoa – Kiểng để thúc đẩy kinh tế phát triển, với mong muốn tạo hiệu ứng tích cực cho du lịch nông nghiệp bền vững, thân thiện môi trường, giúp bà con làm giàu từ ngành hoa, kiểng…
Tại hội nghị, đại diện các Hiệp hội Hợp tác kinh doanh nông nghiệp Hà Lan – Việt Nam, Hiệp hội Hoa Đà Lạt và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hoa, kiểng trao đổi thực trạng sản xuất, kinh doanh hoa, kiểng trong thời gian qua; đưa ra những giải pháp để cùng chung tay phát triển ngành hoa, kiểng trong thời gian tới.
Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan (thứ 4 từ phải sang), Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thiện Nghĩa (thứ 4 từ trái sang) và lãnh đạo các sở, ngành, doanh nghiệp kinh doanh hoa, kiểng thực hiện nghi thức ra mắt Website hoasadec.vn
Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thiện Nghĩa cho biết, Festival Hoa – Kiểng Sa Đéc lần này là dịp để đưa ngành hoa, kiểng bước sang một chương mới, nâng tầm hơn so với trước đây.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan mong muốn tất cả người bán, người mua và người kết nối hợp tác, đoàn kết, lạc quan để cùng chung tay xây dựng những giá trị tốt đẹp, nâng tầm cho ngành hoa, kiểng. Nhằm kịp thời nắm bắt xu hướng phát triển của ngành hoa, kiểng nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, người trồng hoa phải luôn trong tâm thế là nghệ nhân chơi hoa, là doanh nhân làm du lịch, là chủ doanh nghiệp kinh doanh thì mới mang lại lợi nhuận kinh tế cao.
Các công ty, doanh nghiệp sản xuất và thu mua, phân phối hoa kiểng cùng trao đổi, tìm phương án kết nối, hợp tác
Hội nghị còn diễn ra phiên kết nối trực tiếp giữa các công ty, doanh nghiệp sản xuất và thu mua, phân phối hoa, kiểng.
Dịp này, UBND tỉnh Đồng Tháp cũng tổ chức nghi thức ra mắt Website Thương mại điện tử cung cấp thông tin và giao dịch thương mại ngành hàng hoa, kiểng Đồng Tháp, tên miền hoasadec.vn. Đồng thời, Sở Công Thương chủ trì chương trình Livestream bán hàng với sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh hoa, kiểng; tổ chức chương trình livestream giới thiệu hàng trăm chủng loại hoa, kiểng độc đáo, giá trị cao…
TRANG HUỲNH
Th1230

Nâng cao chất lượng HTX sẽ giúp nông sản tiêu thụ tốt
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
TP.HCM Để nông sản được biết đến nhiều hơn và tiêu thụ tốt, các HTX cần minh bạch trong sản xuất và có các sản phẩm khác biệt để tăng sức cạnh tranh.
Đây là nội dung chính được các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và HTX trao đổi tại Diễn đàn kết nối sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản thông qua HTX được tổ chức sáng 29/12 tại Văn phòng Bộ NN-PTNT.
Chương trình được Báo Nông nghiệp Việt Nam, Văn phòng Bộ NN-PTNT, Trường Chính sách công và PTNT đồng thực hiện, hơn 150 điểm cầu trực tuyến.
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt phát biểu, Diễn đàn là dịp để các nhà quản lý, doanh nghiệp, HTX cùng ngồi lại với nhau, đóng góp ý kiến phát triển nông nghiệp tuần hoàn, kinh tế nông nghiệp và đa sinh thái.
Ông Lê Thanh Tùng (đứng), Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt. Ảnh: Lê Bình.
Trong những năm qua, bức tranh sản xuất nông sản, đặc biệt là ngành hàng lúa gạo Việt Nam có sự khởi sắc và đạt nhiều thành tựu. Sản lượng lúa gạo mà Việt Nam sản xuất đạt 40 triệu tấn, trong đó ĐBSCL là 25 triệu tấn, có nhiều dư địa để xuất khẩu.
“Tuy nhiên, ngành trồng trọt nói riêng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Nguồn nước sông Mekong đang bị hạn chế, điều này gây nhiều khó khăn hơn. Chúng ta phải thay đổi mùa vụ, giống và biện pháp canh tác.
Việc xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, trong khi đó các nước khác cũng đang chủ trương tự lực nguồn lương thực và tiến tới xuất khẩu. Do đó, việc chúng ta cần phải thay đổi lối canh tác truyền thống, giảm lượng phân bón giúp giảm thuốc BVTV, giảm giá thành và giảm lượng phát thải”, ông Tùng cho hay.
Điểm cầu tại Hà Nội do nhà báo Trần Cao, Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp Việt Nam chủ trì. Ảnh: Quỳnh Chi.
Để làm được điều này, sự chung tay của các HTX có vai trò rất lớn trong liên kết sản xuất và thay đổi tập quán, tư duy kinh tế nông nghiệp cho bà con nông dân.
TS Trần Minh Hải, Phó hiệu trưởng Trường Chính sách công và PTNT đánh giá cao công tác hoạt động của các HTX trong việc liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản cho người nông dân. Hiện, Việt Nam có khoảng 20.500 HTX nông nghiệp, gồm 3,8 triệu thành viên, trong đó có trên 51% HTX tốt và khá.
TS Trần Minh Hải, Phó hiệu trưởng Trường Chính sách công và PTNT. Ảnh: Lê Bình.
“Tiềm năng sản xuất nông lâm thủy sản của chúng ta rất lớn. Do đó, để các sản phẩm được biết đến nhiều hơn và tiêu thụ tốt hơn thì cần có sự đầu tư bài bản, quản lý số và đầu tư sâu vào cơ giới hóa”, TS Trần Minh Hải bày tỏ.
Đồng quan điểm, bà Hoàng Thị Hồng Vân, Phó trưởng phòng Kinh tế hợp tác, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT cho rằng, phần lớn HTX vẫn còn những hạn chế nhất định. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ nông sản cho thành viên HTX và người nông dân. Đồng thời, công cụ hỗ trợ cho HTX cũng còn hạn chế.
Diễn đàn có sự tham dự với hơn 150 điểm cầu là các doanh nghiệp, HTX trên cả nước
“Đã đến lúc chú trọng chất lượng HTX chứ không chỉ là về số lượng. Do đó, cần sự phối hợp, thay đổi phương thức để phát triển HTX gắn với các chương trình xúc tiến. Đây là con đường mà trên thế giới nước nào cũng phải đi để tiêu thụ sản phẩm, nông sản”, bà Hồng Vân mong mỏi.
Cũng tại đây, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT cũng giới thiệu 66 mô hình HTX nông nghiệp điển hình trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đây là các gương HTX nông nghiệp trong cả nước đã tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới tư duy, cách làm, tận dụng các nguồn lực hỗ trợ để phát triển, đóng góp quan trọng vào phát triển nông nghiệp nông thôn.
Nhiều doanh nghiệp, HTX có cơ hội để quảng bá sản phẩm của mình, tìm kiếm cơ hội hợp tác. Ảnh: Lê Bình.
Diễn đàn còn là cơ hội để các doanh nghiệp, HTX có cơ hội gặp gỡ, giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Lê Bình
Th1230

Nông nghiệp Việt Nam 2023: Nhiều điều ‘lần đầu tiên’ và nhiều cái ‘nhất’
Nguồn tin: báo nông nghiệp
2023 là năm ngành nông nghiệp chứng kiến nhiều kết quả tốt trên tất cả các lĩnh vực, nhiều điều ‘lần đầu tiên’ và nhiều cái ‘nhất’.
Nhiều điều ‘lần đầu tiên’ và nhiều cái ‘nhất’
Chiều 29/12, Bộ NN-PTNT tổ chức họp báo công bố kết quả công tác năm 2023 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2024.
Điểm lại những kết quả chính của ngành nông nghiệp năm 2023, ông Nguyễn Văn Việt – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ NN-PTNT) thông tin, đây là năm chứng kiến nhiều kết quả tốt trên tất cả các lĩnh vực, nhiều điều “lần đầu tiên” và nhiều cái “nhất”.
Trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là về thị trường xuất khẩu lâm sản và thủy sản, song giá trị gia tăng toàn ngành (GDP) tăng cao, ước đạt 3,83%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm gần đây.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến chủ trì buổi họp báo công bố kết quả công tác năm 2023 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2024.
Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vị thế quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, các cân đối lớn của nền kinh tế và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô (sản lượng lúa đạt 43,4 triệu tấn, tăng 1,7% so với năm 2022, sản lượng thịt hơi các loại đạt 7,6 triệu tấn, tăng 3,5%; sản lượng thủy sản 9,3 triệu tấn, tăng 2,9%).
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 53,01 tỷ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 12,07 tỷ USD, tăng 43,7% (chiếm trên 42,5% xuất siêu cả nước). Một số mặt hàng xuất khẩu tăng cao kỷ lục như: rau quả đạt 5,69 tỷ USD, tăng 69,2%, gạo đạt 4,78 tỷ USD, tăng 38,4%).
Nền nông nghiệp cũng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu một lượng lớn nông sản ra thế giới, khẳng định cam kết về an ninh lương thực trong khu vực và thế giới. 6 mặt hàng trên 3 tỷ USD: rau quả đạt 5,69 tỷ USD, gạo 4,78 tỷ USD, hạt điều 3,63 tỷ USD, cà phê 4,18 tỷ USD, tôm 3,38 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ 13,37 tỷ USD.
Ông Việt cũng nhấn mạnh, lần đầu tiên lĩnh vực lâm nghiệp đã hoàn thành các thủ tục để chuyển nhượng thành công lượng giảm phát thải 10,3 triệu tấn carbon cho Quỹ Đối tác carbon trong lâm nghiệp thông qua Ngân hàng Thế giới (WB), thu về 1.200 tỷ đồng, góp phần phát triển lâm nghiệp.
Ngoài ra, ngành đã tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn mang tầm quốc gia và quốc tế như Festival quốc tế Ngành hàng lúa gạo Việt Nam – Hậu Giang 2023, Festival Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam 2023, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về phòng chống thiên tai…), qua đó giúp quảng bá hình ảnh, thương hiệu nông, lâm, thủy sản trong nước, khu vực và quốc tế, thúc đẩy tiêu thụ nông sản, nhất là việc phát động thực hiện Đề án Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030.
Tập trung xây dựng, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, đề án lớn như Nghị quyết số 19 của Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; tái cơ cấu ngành nông nghiệp…
Năm 2023 cả nước có khoảng 78% xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), trong đó, có 256 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Có 270 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM.
Số lượng sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên tăng đều qua các tháng và đạt 11.000 sản phẩm (tăng 2.189 sản phẩm so với năm 2022). Nhiều hoạt động tạo điều kiện thuận lợi giúp doanh nghiệp quảng bá, tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, Bộ cũng có sự cố gắng lớn trong công tác giải ngân, cải cách hành chính.
Phấn đấu xuất khẩu 54 – 55 tỷ USD trong năm 2024
Năm 2024, ngành NN-PTNT đặt mục tiêu, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành 3 – 3,5%, trong đó tốc độ tăng giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt tăng 2 – 2,2%; chăn nuôi là 4 – 5%; thuỷ sản là 3,7 – 4%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản khoảng 54 – 55 tỷ USD. Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 80%.
Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định 42,02%, nâng cao chất lượng rừng; tốc độ tăng giá trị sản xuất của lâm nghiệp là 5 – 5,5%. Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn 58%. Tỷ lệ số xã đạt tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới 82%.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng trong bối cảnh khó khăn, ngành nông nghiệp vẫn về đích nhiều mục tiêu quan trọng, có nhân tố mới xuất hiện tích cực, có dấu hiệu bền bững. Ảnh: Linh Linh.
Để đạt được những mục tiêu đề ra, toàn ngành nông nghiệp, nông thôn tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại, kinh tế tuần hoàn, nhất là nông nghiệp bền vững, minh bạch và có trách nhiệm; thực hiện chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, từ phát triển đơn ngành sang hợp tác phát triển đa ngành; thúc đẩy tích hợp đa giá trị trong sản phẩm nông, lâm, thủy sản; chuyển từ chuỗi cung ứng nông sản sang phát triển các chuỗi ngành hàng…
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng trong bối cảnh khó khăn, ngành nông nghiệp vẫn về đích nhiều mục tiêu quan trọng, có nhân tố mới xuất hiện tích cực, có dấu hiệu bền vững. Đây là kết quả của sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, phối hợp giữa trung ương và địa phương, sự chung sức, đồng lòng của doanh nghiệp và người dân.
Triển khai nhiệm vụ năm 2024, Thứ trưởng Bộ NNN-PTNT Phùng Đức Tiến nêu rõ, nhiều ngành hàng xuất khẩu đã đạt những kỳ tích mới, có tín hiệu xuất khẩu tốt sẽ tạo tiền đề để năm 2024 ngành nông nghiệp tăng tốc trong xuất khẩu, đạt mục tiêu từ 54 tỷ đến 55 tỷ USD.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến gợi mở một số trọng tâm của ngành cho năm 2024. Theo đó, trên nền tảng những kết quả đã đạt được và để tiếp tục đẩy mạnh mô hình tăng trưởng thực chất, hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế trong năm 2024 dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, ngành NN-PTNT vẫn đặt mục tiêu phát triển với nhiều chỉ tiêu đề ra.
Linh Linh
Th1225

Sản xuất ‘du canh’, liên kết yếu cản đường cấp mã số vùng trồng
Nguồn tin: Báo nông nghiệp
QUẢNG NGÃI Diện tích sản xuất nhỏ lẻ, thiếu doanh nghiệp đủ tiềm lực để liên kết sản xuất với người dân khiến Quảng Ngãi gặp khó trong việc xây dựng mã số vùng trồng xuất khẩu.
Truy xuất nguồn gốc sản phẩm là xu thế tất yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản trong thị trường nội địa và được xem là “tấm vé thông hành” đối với những mặt hàng xuất khẩu. Trong đó, việc duy trì, thiết lập và cấp, quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói nông sản là điều kiện cần thiết cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi mới chỉ cấp được 1 mã vùng trồng xuất khẩu cho sản phẩm chuối. Ảnh: Lê Khánh.
Cấp mã số vùng trồng cũng là điều kiện, cơ hội để các hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước, nhất là các thị trường yêu cầu chất lượng cao. Điều này không chỉ giúp người tiêu dùng và cơ quan chức năng dễ dàng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu thông qua việc sản xuất theo quy trình, có kiểm soát sinh vật gây hại, đảm bảo an toàn thực phẩm mà còn giúp các doanh nghiệp, hộ sản xuất, hợp tác xã ý thức được vấn đề sản xuất liên quan chặt chẽ đến chất lượng và giá thành sản phẩm.
Trên cơ sở Quyết định số 3156 và của Bộ NN-PTNT, tỉnh Quảng Ngãi cũng đã đẩy mạnh việc cấp mã số vùng trồng cho các sản phẩm nông nghiệp. Đến nay, tỉnh này đã cấp được 9 mã số vùng trồng tiêu thụ nội địa gồm: 2 mã vùng trồng rau, 1 mã vùng trồng ớt, 4 mã vùng trồng lúa, 1 dừa xiêm lùn xanh và 1 mã vùng trồng dưa hấu.
Trong khi đó đối với xuất khẩu, tỉnh Quảng Ngãi mới chỉ cấp được 1 mã vùng trồng chuối xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cho Công ty Cổ phần Nông lâm nghiệp 24/3.
Theo ông Nguyễn Thế Vĩnh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi, về mặt hàng nông sản xuất khẩu, tỉnh xác định ngoài cây chuối thì cây ớt và dưa hấu là 2 loại cây trồng sẽ tiến tới cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, việc này đang gặp rất nhiều khó khăn.
Đối với cây ớt, diện tích trồng toàn tỉnh khoảng trên 1.550ha, sản lượng đạt gần 24.650 tấn/năm. Cây dưa hấu có tổng diện tích hơn 2.000ha, sản lượng đạt hơn 57.000 tấn. Những năm qua, sản phẩm 2 loại cây này đa phần xuất qua thị trường Trung Quốc nhưng giá cả rất bấp bênh khi phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái. Do đó, để đảm bảo tính ổn định lâu dài, việc liên kết sản xuất, xây dựng mã số vùng trồng là vô cùng cấp thiết.
“Mặc dù vậy, trở ngại đối với vùng trồng xuất khẩu của tỉnh là diện tích sản xuất chủ yếu nông hộ nhỏ lẻ, manh mún, thiếu sự liên kết để hình thành các vùng chuyên canh đảm bảo yêu cầu của các nước nhập khẩu. Như cây dưa hấu, hiện nay tình trạng chung của Quảng Ngãi là người dân thuê đất ở từng khu vực qua từng năm, sau đó lại chuyển đi chỗ khác nên rất khó để kết nối với các chủ ruộng và xây dựng liên kết sản xuất lâu dài”, ông Vĩnh nói
Các sản phẩm phục vụ xuất khẩu của tỉnh Quảng Ngãi đang gặp khó khăn trong việc liên kết sản xuất với các doanh nghiệp có tiềm lực. Ảnh: Lê Khánh.
Xã Bình Dương (huyện Bình Sơn) là địa phương có diện tích trồng ớt lớn của tỉnh Quảng Ngãi với hơn 150ha, khoảng 250 hộ sản xuất. Cây ớt của địa phương này cũng đã được công nhận sản phẩm OCOP của tỉnh nhưng việc tiêu thụ cũng đang gặp khó khăn vì hoàn toàn phụ thuộc vào thương lái nên có thời điểm giá ớt xuống chỉ còn 2.000 đồng/kg, bà con không thèm thu hoạch.
Ông Nguyễn Quang Vũ, Chủ tịch UBND xã Bình Dương chia sẻ: “Thực trạng của cây ớt ở xã Bình Dương nói riêng và cả huyện Bình Sơn nói chung là khi sản lượng cao thì giá thấp. Do đó, địa phương rất muốn xây dựng mã số vùng trồng nhằm hướng đến xuất khẩu, đảm bảo đầu ra, giá cả ổn định. Về vấn đề liên kết sản xuất thì hợp tác xã có thể làm được nhưng việc tìm thị trường, đối tác xuất khẩu thì rất khó. Đến nay, vẫn chưa có doanh nghiệp nào đứng ra thực hiện”.
Đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi cũng thừa nhận rằng, trên địa bàn đang thiếu những doanh nghiệp lớn về lĩnh vực nông nghiệp có đủ tiềm lực để xây dựng vùng nông sản xuất khẩu. Ngoài ra, hiện cơ chế chính sách hỗ trợ cho các địa phương để hình thành mã vùng trồng của tỉnh cũng chưa đủ mạnh. Cùng với đó, người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng mã số vùng trồng cả nội địa lẫn xuất khẩu.
Từ thực tế này, thời gian qua, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức 38 lớp tập huấn nhằm tuyên truyền, hướng dẫn các địa phương, cơ sở thực hiện xây dựng vùng trồng đảm bảo cho việc cấp mã. Trong đó gồm 1 lớp cho các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và phòng NN-PTNT các huyện; 12 lớp cho 12 huyện, thành phố, thị xã và 25 lớp cho nông dân, cơ sở sản xuất với khoảng 1.300 người tham gia.
“Trước mắt, chúng tôi tập trung xây dựng mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa. Khi đảm bảo hình thành được các chuỗi liên kết, tìm được thị trường thì mở rộng ra xuất khẩu. Đồng thời các cơ quan chuyên môn sẽ tham mưu cho các cấp chính quyền ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các địa phương hình thành mã vùng trồng.
Song song đó, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân và khuyến khích, kêu gọi doanh nghiệp tham gia, tạo mối liên kết để tổ chức xuất khẩu”, ông Nguyễn Thế Vĩnh, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ngãi nói.
Th1225

Cây lúa trở lại trên đất nuôi tôm
Nguồn tin : báo Cà Mau
Sau nhiều năm vắng bóng, cây lúa đang dần trở lại trên đất nuôi tôm ở huyện Phú Tân. Ðây là tín hiệu cho sự phát triển sản xuất theo hướng bền vững.
Năm 2023, nhiều nông dân xã Phú Mỹ chủ động sản xuất vụ lúa trên đất nuôi tôm. Thực tế đã qua cho thấy, tuy lúa có trúng, có thất nhưng chắc chắn rằng, khi làm được lúa thì tôm nuôi sẽ ổn định và cho năng suất khá. Theo một số nông dân, để làm được vụ lúa trên đất nuôi tôm đòi hỏi nông dân phải quyết tâm, chủ động ngay từ đầu, cần có sự cần cù, chịu khó.
Ông Lâm Văn Tỷ, 54 tuổi, ấp Lung Môn, xã Phú Mỹ làm lúa trên đất nuôi tôm 2 năm nay. Năm 2022, vụ lúa trên đất nuôi tôm của gia đình cho hiệu quả vượt trội, sạ 8 công thu hoạch 70 giạ lúa khô. Ðáng nói là tôm trúng gấp 2 lần so với lúc chưa trồng lúa; tổng thu nhập năm qua trên 200 triệu đồng.
Ông Tỷ tận dụng diện tích đất trước sân nhà khoảng 300 m2 để sạ lúa và chuẩn bị thu hoạch; ước khoảng 10 giạ lúa, ông dùng để nuôi gà, vịt.
Năm nay, ông Tỷ tiếp tục sạ lúa trên đất nuôi tôm, hiện lúa trên 2 tháng, đang phát triển tốt. Ngay từ đầu, ông chủ động rửa mặn để sạ lúa nên đến thời điểm này, lượng nước trong vuông vẫn ngọt để cây lúa phát triển đến khi thu hoạch.
Ông Nguyễn Thanh Bình, 61 tuổi, ấp Phú Thành, xã Phú Mỹ mới làm lúa trên đất nuôi tôm năm nay. Ông gieo mạ trên sân, sau khoảng 1 tháng thì nhổ cấy xuống ruộng. Với 12 kg lúa giống Một bụi đỏ, ông Bình cấy được khoảng 8.000 m2 đất. Hiện lúa đang phát triển tốt, sắp trổ bông.
Bản thân ông Bình hiểu rằng, có cấy lúa thì môi trường nuôi tôm sẽ ổn định và sản lượng thu hoạch tôm sẽ khá. “Từ khi trồng lúa đến giờ, thu hoạch tôm thấy khá hơn. Trước đây đến con nước đặt lú, mỗi đêm chỉ thu được từ 300-500 ngàn đồng, nay tăng lên 3-5 triệu đồng”, ông Bình cho biết.
Năm nay là năm đầu tiên ông Nguyễn Thanh Bình, 61 tuổi, ấp Phú Thành, xã Phú Mỹ, cấy lúa trên đất nuôi tôm. Lúa đang phát triển tốt.
Ông Võ Văn Kiệt, 57 tuổi, ấp Phú Thành, xã Phú Mỹ trồng lúa được 4 năm qua. Trong tổng diện tích đất nuôi tôm của gia đình 12.000 m2, ông cải tạo khoảng 6.000 m2 để trồng lúa. Theo ông Kiệt, trồng lúa tạo môi trường nước sạch, tôm, cua phát triển tốt. Mỗi năm thu nhập từ tôm, cua của gia đình khoảng 100-150 triệu đồng, cao hơn những người dân xung quanh không trồng lúa.
Năm 2023, xã Phú Mỹ có trên 20 hộ dân ở các ấp: Lung Môn, Phú Thành, Thọ Mai… trồng lúa trên đất nuôi tôm, với diện tích trên 15 ha. Lúa hiện đang phát triển tốt. Ông Nguyễn Trường Sơn, Phó chủ tịch UBND xã, cho biết: “Cây lúa không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn cải tạo môi trường đất, mang lại thức ăn cho con tôm, giúp nuôi tôm trúng gấp nhiều lần so với bình thường. Chính vì vậy, bà con nơi đây luôn ý thức thực hiện vụ lúa khi điều kiện thời tiết cho phép”./.
Anh Phan
Th1225

Tất bật chuẩn bị vụ bưởi Tết
Nguồn tin: Báo Vĩnh Long
Nhà vườn tích cực chăm sóc bưởi để phục vụ thị trường Tết.
Thời điểm này, nhiều nhà vườn tại TX Bình Minh đang tích cực chăm sóc bưởi năm roi để cung ứng phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Một số nhà vườn dự báo sản lượng bưởi Tết năm nay giảm mạnh so với năm trước.
Nhiều nhà vườn trồng bưởi năm roi cho hay, năm nay, ngoài chịu ảnh hưởng thời tiết thì có nhiều nguyên nhân khiến bưởi giảm năng suất, sản lượng. Theo đánh giá của nhà vườn, sản lượng bưởi cung cấp ra thị trường Tết năm nay dự báo giảm mạnh.
Có 1ha trồng bưởi năm roi hơn 20 năm, anh Võ Trung Tính (xã Mỹ Hòa) cho hay: Thời tiết năm nay khó xử lý ra hoa, giữ trái, bên cạnh đó, do vườn bưởi lâu năm, khai thác nhiều nên năng suất bưởi cũng không còn cao. Năm ngoái, 1ha bưởi cho sản lượng 15 tấn trong dịp Tết. Tuy nhiên, theo số lượng bưởi ra hoa, đậu trái năm nay thì dự đoán sản lượng bưởi sẽ giảm mạnh.
“Dự đoán năm nay vườn bưởi chỉ cho năng suất tầm 7-8 tấn/ha. Tuổi thọ bưởi hơn 20 năm rồi, nhiều cây già cỗi, nên năng suất cũng giảm. Tuy vậy, tôi vẫn chú trọng chăm sóc vườn bưởi theo tiêu chuẩn VietGAP để tăng độ đẹp của trái bưởi, phục vụ thị trường Tết năm nay”.
Xã Mỹ Hòa là địa phương có diện tích trồng bưởi năm roi lớn nhất tỉnh. Tuy nhiên, những năm gần đây vì nhiều nguyên nhân khiến diện tích trồng loại cây ăn trái này giảm mạnh. Hiện diện tích trồng bưởi năm roi ở xã chỉ còn hơn 670ha, giảm hơn 400ha so với năm trước.
Theo một số nhà vườn, nguyên nhân chủ yếu là do một số vườn bưởi già cỗi cho năng suất thấp, giá bưởi bấp bênh, nhiều diện tích được người dân cải tạo, chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn trái khác…
Diện tích giảm, giá cả bưởi năm roi không ổn định nên nhà vườn cũng khá dè dặt đầu tư bưởi bán Tết. Một số nhà vườn cho hay, việc sản xuất của nhà vườn cũng không tập trung vào dịp Tết như trước mà được rải vụ quanh năm, phần nào cũng làm giảm sản lượng bưởi Tết. Theo đó, nhà vườn dự đoán sản lượng bưởi năm roi phục vụ thị trường Tết năm nay giảm 40-50% so với năm trước.
Cô Nguyễn Thị Huỳnh Hoa (xã Mỹ Hòa) cho hay: “Tôi có 12 công bưởi, những năm trước thu hoạch được 1-2 tấn/công, tuy nhiên vài năm gần đây sản lượng giảm mạnh, năm nay còn ít hơn năm trước, độ chừng vài trăm ký/công.
Nguyên nhân do bưởi bị dịch hại, côn trùng tấn công, làm cho chất lượng, mẫu mã bưởi bị giảm, ảnh hưởng đến năng suất của bưởi vào dịp Tết. Tôi phải thường xuyên thăm vườn, tỉ mẩn trong khâu chăm sóc, phòng trừ các loại côn trùng chích, bảo vệ trái cho đẹp mới bán chợ Tết được giá cao”.
Mặc dù diện tích trồng bưởi giảm, song địa phương vẫn tuyên truyền, vận động nhà vườn sản xuất sạch theo hướng hữu cơ và các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm để nâng cao chất lượng trái bưởi, cung ứng phục vụ thị trường Tết. Hiện toàn xã Mỹ Hòa có 50ha diện tích bưởi được Viện Cây ăn quả miền Nam hỗ trợ xây dựng theo chương trình VietGAP với gần 60 hộ tham gia.
Ông Ngô Văn Sơn- cán bộ nông nghiệp xã Mỹ Hòa, cho biết: Hiện các hộ dân duy trì sản xuất bưởi năm roi theo hướng GAP, VietGAP, GlobalGAP thường có thị trường tiêu thụ ổn định và giá bán cao hơn so với bưởi trồng theo cách truyền thống.
Ông Nguyễn Văn Mạnh- Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Hòa, cho hay: Địa phương tập trung phối hợp các ngành hướng dẫn, tuyên truyền nông dân thực hiện nhiều mô hình trồng theo hướng bưởi sạch, áp dụng sản xuất theo hướng hữu cơ. Tuy giá bưởi năm nay có giảm nhưng người dân vẫn duy trì áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng chất lượng, mẫu mã trái để cung ứng thị trường Tết.
Theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp, để cây bưởi cho năng suất cao, mẫu mã đẹp, chất lượng vào đúng dịp Tết, nông dân cần lưu ý đến cách chăm sóc cây. Theo đó, khi cây bưởi đã cho ra trái hình thành ổn định, nên tiến hành tuyển trái cho cây, chỉ để lại những trái đảm bảo chất lượng nuôi vào dịp Tết.
Cần loại bỏ những trái méo mó, không đồng tâm, tâm bị lệch, trái bị chai sượng, không căng nở tròn đều, trái bị sâu bệnh hại tấn công, chỉ để lại những trái to tròn đều, khoảng cách giữa các trái trên một cành đảm bảo. Trung bình chỉ nên để lại 2-3 trái/cành.
Cần chú ý phòng trừ các loại dịch hại và côn trùng tấn công như ruồi đục trái, bọ xít muỗi, nhện đỏ, bọ trĩ, bọ xít xanh,… Ngoài ra, cũng cần phải chú ý đến các loại nấm bệnh như bồ hóng, phấn trắng…
Sản lượng giảm mạnh, nhiều nhà vườn dự báo giá bưởi Tết có thể tăng cao hơn so với mọi năm. Nhà vườn đang tất bật, tập trung chăm sóc, dưỡng trái để tạo mẫu mã đẹp, có chất lượng, cung ứng ra thị trường với hy vọng sẽ có vụ mùa bưởi Tết giá tốt.
Bài, ảnh: NGUYÊN KHANG
Th1219

Chống chanh leo giả bằng QR Code
Nguồn tin : Báo nông nghiệp
Giống chanh leo giá rẻ là chiêu bài mà nhiều cá nhân sử dụng để làm mồi nhử nông dân, khiến người trồng lao đao vì cây năng suất thấp, thậm chí chết yểu.
Nafoods luôn chú trọng vào chất lượng giống cây trồng bên cạnh việc không ngừng tìm hiểu xu hướng thị trường. Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, trồng thử nghiệm của đội ngũ chuyên gia, cây giống chanh leo tím ngọt Nafoods 1 được ra đời, đáp ứng nhu cầu dùng quả chanh tươi có vị ngọt, không cần pha chế. Ảnh: Thu Hải.
Doanh nghiệp lao đao, nông dân khốn đốn
Ông Hồ Hải Quân, Giám đốc vùng trồng Tây Nguyên thuộc Công ty Cổ phần Nafoods Group, cho biết một trong những điều khiến doanh nghiệp lao đao, nông dân khốn đốn là việc giống giả, giống kém chất lượng được bán tràn lan trên thị trường.
Theo ông Quân, sau gần ba thập kỷ xuất hiện trên thị trường, Nafoods đã tạo dựng được lòng tin với đối tác, khách hàng, bà con nông dân. Tuy nhiên, thời gian gần đây, Nafoods đang phải đối mặt với vấn nạn hàng nhái, hàng giả thương hiệu công ty gây ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín.
Khi bước vào giai đoạn cao điểm xuống giống chanh leo, Nafoods đã phát hiện một số đơn vị cung cấp hàng giả, hàng nhái sản phẩm cây giống chanh leo thương hiệu Nafoods. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của nhà vườn khi mua phải cây giống kém chất lượng, không được đảm bảo quyền lợi và làm giảm uy tín của chanh leo Nafoods.
Nhằm hạn chế rủi ro cho khách hàng, công ty đã nhanh chóng thực hiện các chương trình khuyến cáo bà con nông dân khi mua hàng, đồng thời đưa ra cách thức để phân biệt hàng chính hãng Nafoods với hàng giả, hàng nhái.
Một trong số những biện pháp rốt ráo mà Nafoods nhanh chóng đưa ra và thực hiện khá hiệu quả để hỗ trợ bà con dễ dàng phân biệt đó là: Xác thực qua quét mã QR Code trên thùng, Xác thực mã an ninh qua tin nhắn tổng đài. “Quý khách hàng, nhà nông quét mã QR Code để liên kết với kênh Zalo, tổng đài của Nafoods sẵn sàng hỗ trợ và trang khuyến nông này cũng cập nhật thông tin nhanh chóng nhất”, ông Quân nói.
Triết lý được Nafoods đưa ra là phát triển bền vững. Nafoods là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm chanh leo lớn nhất châu Á, sản phẩm của doanh nghiệp này đã có mặt tại hơn 70 thị trường xuất khẩu với phân khúc linh hoạt.
Về trách nhiệm với sản phẩm, Công ty luôn đảm bảo an toàn thực phẩm là ưu tiên hàng đầu. Nafoods cam kết mỗi sản phẩm của mình đều là kết quả của một chu trình sản xuất khép kín, đáp ứng một trong những yêu cầu khắt khe nhất về chất lượng, công ty tiến hành kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng từ đầu vào đến đầu ra sản phẩm và đạt chuẩn quốc tế về quy trình sản xuất.
Trải qua gần 30 năm xây dựng và phát triển, Nafoods đang hướng đến tầm nhìn trở thành tập đoàn tiên phong phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp số hóa, xanh và bền vững; thực hiện sứ mệnh cung cấp cho thế giới các sản phẩm nông nghiệp tự nhiên, an toàn và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người.
Hiện nay, một mặt Nafoods nghiên cứu, sản xuất các giống chanh dây đạt chất lượng; Quá trình liên kết với các hợp tác xã, nông hộ trong trồng, chăm sóc vườn cây, đơn vị thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về trồng chanh dây sạch cho người dân, trong đó, chú trọng hướng dẫn sử dụng các phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học để đảm bảo an toàn thực phẩm, an toàn cho người lao động và giảm thiểu tác động đến môi trường. Mặt khác, công ty tập trung đầu tư tối ưu hóa nâng cấp dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đem đến tận tay người tiêu dùng những sản phẩm “Tròn tự nhiên, trọn hương vị”.
Sản phẩm chanh leo của Nafoods được người tiêu dùng ưa chuộng. Ảnh: Tùng Đinh.
Giống chanh leo được bảo hộ
Tính đến nay, Nafoods đã nghiên cứu thành công 3 giống chanh leo mới và đã được cấp bằng bảo hộ độc quyền theo quyết định số 192/QĐ-TT-VPBH ngày 21/6/2019; số 193/QĐ-TT-VPBH ngày 24/6/2019; số 195/QĐ-TT-VPBH ngày 25/6/2019 của Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN-PTNT cho giống chanh leo Quế Phong 1, Bách Hương 1, Nafoods 1 với thời hạn bảo hộ kéo dài 20 năm.
Công ty xác định hướng đi lâu dài, gắn bó với cây chanh leo và đồng hành cùng nhà nông, nên việc đầu tư cơ sở vật chất và tạo ra những cây giống tốt là điều cốt lõi mà công ty hướng đến.
Bên cạnh đó, Nafoods luôn trăn trở tìm ra hướng đi mới, mở rộng sản xuất chế biến từ nguồn nguyên liệu quả tươi để nhà nông yên tâm đầu ra sản phẩm. Chính vì vậy, các hợp tác xã liên kết với Nafoods vẫn hoạt động ổn định trước tình hình nhiều vườn đã bỏ hoang.
Tại Tây Nguyên hiện nay, rất nhiều nhà nông không còn tha thiết với cây chanh leo, khiến các nhà vườn ghép cây giống nhỏ lẻ không còn “hô mưa gọi gió” như thời gian trước. Thực tế này khiến Nafoods càng tin tưởng vào quyết định xây dựng chuỗi liên kết 3 nhà giữa Doanh nghiệp – HTX – Nhà nông.
Ông Hồ Hải Quân, Giám đốc vùng trồng Tây Nguyên thuộc Công ty Cổ phần Nafoods Group đã chia sẻ trong lễ ký kết hợp tác với Hợp tác xã và bà con nông dân về việc thông qua chính sách liên kết hợp tác phát triển vùng trồng và chính sách thu mua nông sản của công ty để nông dân an tâm sản xuất. Ông Quân khẳng định mấu chốt vấn đề là phát triển bền vững, có quy hoạch đối với việc canh tác của bà con nông dân, cũng như việc tiêu thụ sản phẩm quả tươi.
“Nafoods không bao giờ bỏ rơi những người nông dân một nắng hai sương, đồng hành cùng chúng tôi trong việc định vị chanh leo Việt Nam trên bản đồ thế giới”, ông Quân nói.
Tính hết năm 2023, Nafoods đã liên kết trồng chanh leo cùng 28 hợp tác xã, 2.000 nông hộ với hơn 2.200ha. Mục tiêu đến năm 2028, Nafoods sẽ mở rộng vùng chanh leo tại 4 tỉnh trọng điểm ở Tây Nguyên là Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với diện tích hơn 10.000ha để nhà nông trồng chanh leo có thông tin thị trường, kỹ thuật canh tác chuẩn cũng như đầu ra ổn định.
Công ty cổ phần Nafoods Group được thành lập vào năm 1995; là doanh nghiệp hàng đầu tại Việt Nam trong việc phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp từ khâu giống, trồng, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nước ép trái cây, rau củ quả đông lạnh, trái cây sấy, các loại hạt và hoa quả tươi.
Th1218

Đưa rau sạch đến với người tiêu dùng
Nguồn tin : Báo Long An
Hiểu được giá trị của sản phẩm sạch đối với sức khỏe người tiêu dùng (NTD), Hợp tác xã (HTX) Rau an toàn Việt (hay gọi VietRAT, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An) quyết định hướng dẫn thành viên trồng rau theo quy trình hữu cơ 100%.
Chị Nguyễn Thị Lan (giữa) tâm huyết với việc đưa rau sạch đến với người tiêu dùng
Trước đây, hàng tuần, chị Nguyễn Thị Lan (Giám đốc HTX VietRAT) thường về huyện Cần Đước đem những món nhà quê như rau, củ, quả do gia đình tự trồng để dùng hoặc gửi tặng bạn bè, người thân. Chị ít khi mua ở ngoài vì sợ rau, củ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng đến sức khỏe. Bạn bè, đồng nghiệp nhận quà của chị Lan nhiều lần cũng ngại nên bảo chị hàng tuần mang rau lên bán bởi họ cũng có nhu cầu sử dụng rau sạch.
Chị Lan quen những người bạn trồng rau hữu cơ nên có cơ hội học hỏi, áp dụng quy trình trồng một cách bài bản, khoa học. Chị bàn bạc với gia đình và những nông hộ xung quanh chuyển từ trồng rau chạy theo năng suất, sản lượng sang chú trọng chất lượng sản phẩm, sức khỏe NTD.
Chị Lan bộc bạch: “Năm 2016, HTX VietRAT được thành lập với 11 thành viên, sản xuất 1ha. Khi mới chuyển sang trồng rau hữu cơ thì năng suất rất thấp, trong khi đó phải tốn công lao động gấp 3 lần so với trồng bằng phương pháp hóa học. Một khó khăn khác, sản phẩm của HTX chưa có đầu ra ổn định, chủ yếu bán cho người quen. Những điều này làm các thành viên HTX nản lòng. Nhiều lần, tôi cũng muốn bỏ cuộc nhưng nhận được sự chia sẻ của gia đình, nhất là phản hồi tích cực của NTD, tôi mới có động lực duy trì, phát triển mô hình đến nay”.
Trồng rau hữu cơ phải hơn 1 năm mới cải tạo được đất tơi xốp, thu hút nhiều thiên địch. Đến năm thứ 2, năng suất cũng đạt. Chị Tô Thị Thu Hà (thành viên HTX VietRAT) chia sẻ: “Gia đình tôi trồng 400m2 rau hữu cơ. Trồng rau hữu cơ tốn nhiều thời gian bởi chủ yếu sử dụng men vi sinh nên phải xịt nhiều lần và nhổ cỏ bằng tay. Sau thời gian trồng theo hướng hữu cơ, rau bán được giá, năng suất không thua so với trồng theo hướng hóa học, thậm chí có thời điểm còn cao hơn”.
Bằng sự nỗ lực, trách nhiệm của chị Lan và các thành viên, đến nay, các sản phẩm rau của HTX đã vào được các chuỗi cửa hàng rau sạch, Winmart, Lotte mart, Go, Co.opXtra,… tại TP.HCM. Bình quân, hàng ngày, HTX cung cấp cho thị trường 500kg rau sạch các loại với giá bán cao hơn 30% so với rau trồng theo phương pháp hóa học.
Chị Lan cho biết thêm: “Hiện nay, HTX mở rộng diện tích sản xuất 7,2ha rau hữu cơ. Thế mạnh của HTX là các loại rau ăn lá và rau mùi. Từ năm 2018 đến nay, HTX chưa tăng giá lần nào. Bán với giá này, các thành viên HTX vẫn có lợi nhuận. Nhờ sản xuất ổn định, HTX giải quyết việc làm thường xuyên cho 20 lao động với thu nhập từ 6-12 triệu đồng/người/tháng”
Sản xuất sạch, hữu cơ là hướng đi tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Thực tế hiện nay, NTD rất quan tâm chất lượng sản phẩm. Điều này càng khẳng định. HTX VietRAT đang đi đúng hướng, góp phần đưa sản phẩm sạch đến tay NTD./.
Minh Thư
Th1218

Phát triển lúa gạo bền vững
Nguồn tin: Báo Hậu Giang
Việt Nam là một trong số các nước sản xuất lúa và xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Vị thế của ngành lúa gạo Việt Nam ngày càng được nâng cao không chỉ về sản lượng và giá trị xuất khẩu, mà còn thể hiện ở những phản hồi tích cực của người tiêu dùng thế giới về gạo Việt. Phát triển lúa gạo chất lượng cao, bền vững đang được nước ta đẩy mạnh hiện nay.
Canh tác lúa thông minh, giảm phát thải khí nhà kính đang được thực hiện ở các địa phương ĐBSCL.
Ngành nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long là một trong các vùng sản xuất lúa gạo chính. Sản lượng lúa sản xuất tại vùng những năm gần đây luôn ổn định ở mức 24-25 triệu tấn, chiếm trên 50% sản lượng lúa sản xuất và trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu hộ sản xuất nông nghiệp trong vùng. Với nhiều lợi thế về điều kiện đất đai, khí hậu; người dân cần cù, có truyền thống sản xuất lúa nước lâu đời, cùng với sự mạnh dạn trong áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, ngành lúa gạo của đồng bằng sông Cửu Long đã thu được nhiều thành công và góp phần khẳng định thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thông qua dự án VnSAT, người dân trồng lúa tại đây đã bước đầu quen thuộc với các quy trình canh tác bền vững, hướng tới giảm phát thải, đã bước đầu đo đạc được lượng khí phát thải từ sản xuất lúa.
Bộ NN&PTNT cho biết, trong bối cảnh ba chữ “biến” ngày càng tác động mạnh hơn đối với nông nghiệp, trong đó có ngành hàng lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long là: biến đổi khí hậu, biến động thị trường và biến chuyển xu thế tiêu dùng thế giới. Yêu cầu của thị trường ngày càng cao, quy định của các nước nhập khẩu ngày càng nghiêm ngặt. Đó là chất lượng gạo phải được nâng cao, phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phải tuân thủ trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua việc giảm thiểu sử dụng đầu vào sản xuất có nguồn gốc hóa học, sản xuất giảm phát thải; đó là phải nâng cao thu nhập cho người nông dân trồng lúa trên cùng một đơn vị diện tích sản xuất. Tại COP 26, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký cam kết phấn đấu giảm phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Như vậy, có thể thấy ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thách thức, khó khăn và yêu cầu phải “chuyển mình”.
Trước những chữ “biến” đó, Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” đã được Chính phủ phê duyệt, ban hành với mục tiêu hình thành được 1 triệu héc-ta vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tổ chức lại hệ thống sản xuất theo chuỗi giá trị, áp dụng các quy trình canh tác bền vững nhằm gia tăng giá trị, phát triển bền vững ngành lúa gạo, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu nhập và đời sống của người trồng lúa, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế.
Ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, cho rằng: Trong quá trình triển khai đề án, chúng ta sẽ thực hiện thí điểm các chính sách mới như: chi trả tín chỉ các-bon dựa trên kết quả; tập trung vào sản xuất phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh; phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng tuần hoàn, tận dụng tối đa phụ phẩm từ sản xuất lúa gạo; khai thác đa giá trị, tạo ra nhiều sản phẩm chế biến từ lúa gạo… Các thí điểm thành công tại ĐBSCL sẽ được mở rộng ra toàn quốc, hướng tới mục tiêu đưa “Phát triển xanh, giảm phát thải, chất lượng cao” trở thành thương hiệu của lúa gạo Việt Nam. Sự thay đổi nhận thức của người sản xuất và kinh doanh lúa gạo; hợp tác công – tư hiệu quả; và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế như WB, IFC, ADB, IRRI… sẽ là chìa khóa thành công cho đề án.
Ông Cao Đức Phát, Chủ tịch HĐQT Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI), cho rằng: Dự án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh tại ĐBSCL tới năm 2030” là dự án đầu tiên trên thế giới có quy mô lớn theo hướng này. Dự án hết sức cần thiết, cho phép giải quyết đồng thời 3 vấn đề lớn đang đặt ra đối với ngành lúa gạo thế giới và Việt Nam nói riêng. Đó là tăng sản lượng lúa gạo, tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa, thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
“Trên thế giới, gạo là lương thực chính của trên 3 tỉ người. Sản xuất lúa gạo là việc làm và thu nhập chính của khoảng 140 triệu hộ nông dân nhỏ, sử dụng 11% đất canh tác toàn cầu. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng nhiều nước vẫn thiếu gạo. Thế giới vẫn phải nỗ lực gia tăng sản lượng. Đồng thời, phải bằng nhiều cách nâng cao nhanh hơn thu nhập của nông dân để khuyến khích họ gia tăng sản xuất. Mặt khác, sản xuất lúa gạo là ngành dễ tổn thương trước biến đổi khí hậu nhưng lại cũng là ngành gây phát thải khí nhà kính lớn, đóng góp khoảng 10% phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, 1,3-1,8% phát thải khí nhà kính toàn cầu. Ở Việt Nam, các tỷ lệ này lớn hơn nhiều. Do vậy, cần sớm có giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính”, ông Cao Đức Phát cho biết.
Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, cho rằng: Để có thể thúc đẩy phát triển ngành lúa gạo, chúng ta sẽ phải đạt được rất nhiều yếu tố, vì ngành lúa gạo sẽ không chỉ đem lại lợi ích cho nông nghiệp, cho nền kinh tế của đất nước, còn phải mang lại sự sống, mang lại thu nhập cho người nông dân và mang lại những đóng góp thiết thực cho hành tinh này. Và Ngân hàng thế giới đồng hành với Bộ NN&PTNT xây dựng Đề án phát triển 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao. Tin tưởng với đề án 1 triệu héc-ta lúa này sẽ hỗ trợ đắc lực cho nông dân Việt Nam, cho nền nông nghiệp của Việt Nam, đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế, cũng như cải thiện đời sống của người dân.
Theo bà Carolyn Turk, với sự ứng dụng của khoa học công nghệ, người nông dân ngày nay có thể sử dụng những công nghệ này để sản xuất tốt hơn và thân thiện hơn với môi trường. Khi chúng ta giảm được 25% chi phí sản xuất thì cũng giúp đồng thời tăng sản lượng 10% và điều này sẽ mang lại lợi nhuận tăng lên 30% cho nông dân đạt được đồng thời rất nhiều mục tiêu tốt cho môi trường, cho đời sống của người nông dân và góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Chính phủ Việt Nam đã đi rất đúng hướng thông qua những kinh nghiệm mà các nước khác trên thế giới đã trải qua. Ngân hàng thế giới sẽ cam kết đồng hành và hỗ trợ cho đề án 1 triệu héc-ta lúa cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, Ngân hàng thế giới sẽ hỗ trợ Việt Nam các cơ chế để có thể tham gia thị trường các-bon tự nguyện, từ đó trong tương lai chúng ta có thể sử dụng được một nguồn tài chính bền vững để chúng ta tiếp tục các hoạt động phát triển và sinh kế.
Giải pháp thực hiện đề án là nông dân giảm lượng lúa giống gieo sạ xuống dưới 70kg/ha, giảm 30% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học, giảm 20% lượng nước tưới so với canh tác truyền thống. 100% diện tích áp dụng ít nhất một quy trình canh tác bền vững như 1 phải 5 giảm, tiêu chuẩn sản xuất lúa bền vững, tưới khô xen kẽ và các tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt được chứng nhận và được cấp mã số vùng trồng. Bên cạnh đó, 100% diện tích sản xuất vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp có liên kết giữa doanh nghiệp với tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc các tổ chức của nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; tỷ lệ cơ giới hóa đồng bộ đạt trên 70% diện tích; tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch dưới 8%; 100% rơm được thu gom khỏi đồng ruộng và được chế biến tái sử dụng; giảm trên 10% lượng phát thải khí nhà kính so với canh tác lúa truyền thống. Đặc biệt, giá trị gia tăng trong chuỗi lúa gạo tăng 40%, trong đó tỷ suất lợi nhuận người trồng lúa đạt trên 50%; lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu chất lượng cao, phát thải thấp chiếm trên 20% tổng lượng gạo xuất khẩu của toàn vùng chuyên canh.
HOÀI THANH – HỮU PHƯỚC
Th103